NGƯỜI TRẺ TRONG THẾ GIỚI ĐÔ THỊ HÓA, NHƯ NGƯỠNG VÀO THẾ KỶ XXI
31 / 07/ 2025, 02:07:17
I. Dẫn Nhập “Toàn Cầu Hóa và Đô Thị Hóa”
1. Thế giới Toàn Cầu Hóa (TCH) là thế giới phẳng và siêu phẳng.
“Thế giới phẳng: Lịch Sử Tóm Tắt Của Thế Kỷ XXI” (2005) là một tuyệt tác của Thomas L. Friedman (1953-) bình luận viên của tạp chí thời danh nước Mỹ New York Time.[1]
Chủ đề mà Friedman nhắc đến xuyên suốt trong cuốn sách của mình chính là phân tích sự toàn cầu hóa vào thế kỷ XXI.[2] Tiêu đề cuốn sách như là một phép văn học ẩn dụ ngầm xem thế giới là một sân chơi bình đẳng về lĩnh vực kinh tế, thương mại, văn hóa cho mọi người và đặc biệt giới trẻ. Ông nhấn mạnh trong đó, một thị trường toàn cầu rất bị phân cách về lịch sử và địa lý, mọi con người cạnh tranh đều có cơ hội như nhau vì thế, cá nhân cần nỗ lực.
Thật vậy, ở thế kỷ XXI này, ở hầu hết các nước phương Tây và ở nhiều khu vực khác trên thế giới, mọi người và nhất là giới trẻ thường xuyên di chuyển đến những nơi mang lại cho họ cơ hội tốt hơn, nơi họ có thể tự - hiện thực (self-realization) và/hay có trải nghiệm mới, và một phần đáng kể trong số họ chuyển đến các trung tâm thành phố lớn.
2. Các trung tâm thành phố lớn, nhìn chung, ở mọi đất nước, con người có xu hướng trải nghiệm về sự đa dạng và phong phú liên quan đến sắc tộc, giới tính và trí tuệ, nhưng đi đôi với niềm tin suy yếu vào các quy ước truyền thống, đồng thời, mức độ di chuyển chóng mặt dân cư hằng ngày (di động tính) và các mối quan hệ nhiều màu sắc, đa phương, cùng những cơ hội công ăn việc làm (kinh tế) và xã hội (văn hóa hưởng thụ) trở nên gấp bội.
Bởi vì toàn cầu hóa đem lại cho cá nhân một kiểu sử dụng tự do khỏi các truyền thống và quy ước xã hội, cũng như cơ hội cho những người không hoàn toàn sống thích nghi với trật tự xã hội hiện có, các đô thị quốc tế có thể so sánh tương tự với các biên giới địa lý nhất định. Dựa trên lý thuyết trước đó về định cư vùng biên giới và “tinh thần độc lập,” ta có thể nhận xét thực tế rằng, các đô thị quốc tế hiện đại có khả năng là một nam châm thu hút nhiều người và nhất là giới trẻ, những người có định hướng độc lập, muốn tìm cơ may thành công và hiện thực con người mình.
3. Vì thế, ta thấy nơi các đô thị quốc tế, nền văn hóa nhấn mạnh các giá trị bao gồm quyền tự chủ, tự do, chủ nghĩa bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Đồng thời, những đô thị này có xu hướng trở thành trung tâm của sự đổi mới khoa học và kinh tế và là nơi có mạng lưới tài chính toàn cầu, và chúng đặc thù như là một cộng đồng đa dạng chủng tộc và khoan dung với chủng tộc. Hơn nữa, vì tính đa dạng và tinh thần cởi mở, các đô thị quốc tế mang đến những cơ may cho những trải nghiệm độc đáo và mới lạ đối với người trẻ, những con người đang bước vào sự khám phá thế giới đầy cơ may cũng như không ít sự rủi ro!
II. Thế Giới Đô Thị Hóa: Thế Giới Chuyển Động
Như ta đã nói ở trên, thế kỷ XXI là thế kỷ của di dân, khi khái niệm “biên giới” trở nên khó mường tượng hơn nhiều. Vì một trong những hệ quả khi ta nói đến toàn cầu hóa và một thế giới phẳng,[3] đó là ta phải chờ đón sự phát triển của một tổng thể các quan điểm, hành vi và cảm xúc cá nhân rõ ràng hay ẩn tàng, vượt qua ranh giới địa phương và quốc gia. Đơn giản là vì, khi có sự thay đổi về môi trường sống, cả người nhập cư cũng như dân bản địa sẻ phải đi vào một tiến trình cộng nhập văn hóa hài hòa hay xung đột.[4]
1. Đô Thị Hóa Nơi Chất Chứa Một Dạng Năng Lượng Tiềm Ẩn Thúc Đẩy Người Trẻ Chuyển Động
1) Hiện tượng di dân ngày nay cả trong và giữa các quốc gia, là một khía cạnh nền tảng và rõ nét của toàn cầu hóa. Nếu thành phố, ngoài những đặc thù ta nói trên, thì di động tính chính xác là một đặc tính chuyên biệt của người trẻ. Người trẻ luôn là một nhóm quan trọng trong số những người di dân. Do đầu tư nước ngoài thường tạo ra cơ hội việc làm ở các thành phố của nước sở tại, nên lao động nông thôn thường chuyển đến các thành phố.[5]
Addendum - Hiện Tượng Di Dân
1. Theo tổ chức Ngân Hàng Thế Giới (WB),[6] ngày nay, khoảng 55% dân số thế giới - 4,2 tỷ người - sống ở các thành phố. Và người trẻ chiếm khoảng từ 15%-17%.[7] Xu hướng này sẽ tiếp tục. Đến năm 2050, với dân số đô thị tăng hơn gấp đôi quy mô hiện tại, gần 7/10 người trên thế giới sẽ sống ở các thành phố. Với hơn 80% GDP toàn cầu được tạo ra ở các thành phố, đô thị hóa có thể đóng góp vào tăng trưởng bền vững nếu được quản lý tốt bằng cách tăng năng suất, cho phép xuất hiện các sáng kiến và ý tưởng mới.[8]
2. Ở Việt Nam, vào thời trước mốc 1986, thời “Đổi Mới,” thuyền nhân ra đi ồ ạt vì kinh tế hay chính trị tùy theo hoàn cảnh, với mong sự cải thiện đời sống gia đình hay bản thân.
Ngày nay, cũng theo đánh giá của Ngân Hàng Thế Giới (WB), Việt Nam là một trong những nước có tốc độ đô thị hóa cao nhất Đông Nam Á. Năm 1986 tỷ lệ dân cư sống tại đô thị Việt Nam chiếm khoảng 19%, thì đến năm 2013 tỷ lệ này đạt gần 34%. Năm 2019, dân số thành phố Hà Nội khoảng 8 triệu dân; TP. Hồ Chí Minh hơn 13 triệu dân, thuộc diện các thành phố lớn nhất của khu vực. Theo Tổng Cục Thống Kê, năm 2015, 13,6% tổng dân số là người di cư, trong đó, người di cư trong nhóm tuổi từ 19-59 tuổi chiếm 17,3%. Di cư chủ yếu vì lý do học tập và lao động nên phần lớn người di cư có độ tuổi 15-39 tuổi, chiếm tỷ lệ 84% so với tổng số người di cư. Những vùng có điều kiện kinh tế thuận lợi có tỷ lệ người di cư đến rất cao, ví dụ: vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ người di cư đang làm việc cao nhất nước (87,8%); đồng bằng sông Hồng (81%)… Hiện tượng “nữ hóa” di cư đang gia tăng, với 52,4% người di cư là nữ.[9]
2) Nhìn chung, mọi sự di chuyển địa dư đều nhắm đến một sự chuyển động xã hội và nghề nghiệp, và cũng thường xuyên là những sự chuyển đổi tri thức, tài chính hay tâm lý và những điều như thế này thường đe doạ những người đang nắm quyền lực và đang gây ảnh hưởng. Một lý do dễ hiểu, người ở đáy xã hội thì không có gì để mất mà chỉ có lợi từ một xã hội chuyển động. Từ đó ta có thể khám phá ra một cái nhìn thành kiến giai cấp đằng sau các phát biểu tôn giáo chống lại sự di động tính.[10] Vì tính lãng mạng và sự phản kháng thường đi đôi với nhau, nên thật sự cũng dễ dàng để nhận ra một ý thức hệ của giới bảo thủ đang cố biện minh cho một “statu quo” bất định yên tĩnh trong nghề nghiệp và thanh thản an vui ảo trong tháp ngà của mình và thường hòa lẫn, hoặc với các phát biểu tôn giáo ít tiến bộ hoặc thậm chí với một sự phản kháng xuất phát ít nhiều từ chủ nghĩa cơ hữu.[11]
2. Một Viễn Tượng Thần Học Về Di Động Tính Của Người Trẻ Ngày Nay
1) Như ta đã nói ở trên, tính di động là một đặc thù lớn của thế giới đô thị hóa. Hiển nhiên nó kéo theo nhiều vấn đề nghiêm trọng và những hiểm nguy như André Fermet và R. Marlé, trong tuyệt tác “Các Nền Thần Học Ngày Nay”[12] cảnh báo. Nhưng tự thân, di động tính mà một cách được thể hiện rõ nét nhất qua hiện tượng di dân mà ta đã nói đến ở trên, không là cái gì độc hại! Thiên Chúa của Kinh Thánh không phải là Thiên Chúa của di động sao? Và nhất là Ngài lại thường hành sử cách đặc biệt khi yêu cầu những bạn hữu của Ngài di chuyển và đến một nơi xa lạ: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12,1). Từ gương của chính tổ phụ Abraham đến Môsê với dân Xuất Hành, rồi thời các vua với các vị Ngôn Sứ và biến cố lưu đày vĩ đại xóa sạch mọi gốc nguồn vương giả cũng như lê thứ, đến thời Đức Giêsu rày đây mai đó với các môn đệ lang thang, đến nỗi không có viên đá gối đầu, và cho đến thời nay với các nhà truyền giáo ở mọi nơi, Kitô giáo xuất hiện như là dân tộc lữ hành về quê Trời.
2) Các Thành Phố Đương Đại Là Sự Chuyển Động Quần Chúng Trẻ”[13]
Khi phân tích những xu hướng đô thị hóa ở trên chúng ta thấy mỗi xu hướng này cơ bản có khuynh hướng “nhằm đến sự tăng tốc tính di động”[14] của thế giới. Sự công nghiệp hóa không những cuốn hút con người, đặc biệt người trẻ ra khỏi nông thôn, xa rời đồng ruộng, trang trại và đổ vào thành phố, nhưng ngày nay nó đã xâm nhập ngay thế giới vùng sâu này.[15]
Thật vậy, một đàng, con người đã kỹ thuật hóa những công việc trước đây giản đơn và tăng hiệu suất sản xuất; đàng khác, họ cũng biến đổi những ruộng đất, vườn tược ra những nhà máy chế biến thực phẩm, nông cơ... Vô hình chung, một số người do sự giáo dục thiếu sót không có cơ may hội nhập vào trong các nhà máy, lại phải bỏ vùng nông thôn của mình và đi tìm các công việc giản đơn trong những đô thị.
3) Có tác giả còn mô tả thành phố như một trạm chuyển tiếp mà con người dừng lại một thoáng trong chuyến hành trình dài và phức tạp của họ từ nơi này đến nơi khác.[16] Thật vậy, người trẻ cách riêng cũng như những thành phần khác, khi di chuyển từ thành phố này đến thành phố nọ không những để tìm cải thiện đời sống, nhưng còn tìm cho mình một môi trường xung quanh lành mạnh hài hòa. Sự di chuyển trong ngày của người trẻ trong đô thị để đến nơi làm việc, hoặc cho những dịch vụ, hoặc học hành ..., cũng là những dạng thức di dân nhỏ.
Ngay trong thành phố, con người luôn di động. Không những là chuyên viên bấm nút điều khiển (ở một hệ thống xã hội) hay liên lạc (điện thoại di động), con người đô thị còn là người chuyển động (hay lái xe) trên một phương tiện giao thông nào đó và có mặt ở mọi giao điểm xã hội (xe gắn máy, xe hơi, máy bay cá nhân...), trên xa lộ hay đường cao tốc, hay cầu vượt, hay hầm xe, di động trong thang máy vận tốc cao ở những siêu thị, khách sạn và trung tâm hành chính.
4) Di Động Tính, Một Hiện Tượng Bất Đảo Ngược
Đã có những lời than phiền ở tòa giảng hay trong lớp giáo lý, trong các lớp thần học và trong bao tác phẩm xã hội đương đại, đặc biệt tôn giáo, về tính năng động cũng như về sự hời hợt, sự vội vã thiếu chiều sâu nội tâm, thiếu các giá trị thiêng liêng, sự mất gốc và sự tha hóa của người trẻ ngày nay và nói cách chung, của mọi người trong thành phố đô thị, do đã chuyển đổi từ cơ chế lối sống định cư qua mô hình chuyển động.[17]
Có lẽ chúng ta cũng có thể tự hỏi với H. Cox, khi áp dụng vào thời toàn cầu hóa của chúng ta: Phải chăng trong thế giới đô thị hóa, tính di động chỉ tạo ra sự nghèo nàn? Có thể nào mạo hiểm du hành mà không bị lạc đường? Hay chuyển động từ nơi này đến nơi nọ mà không phải là sự lang thang bất định?[18]
5) Trong thế giới thay đổi đến chóng mặt của ngày nay, ví dụ lấy thế hệ 8x, 9x, hay thế hệ Gen Y và Gen Z,[19] có ai sẽ được niềm hạnh phúc sinh ra, lớn lên và về hưu trong cùng một căn nhà[20] và cũng như được làm một công việc tại một chỗ suốt đời mình?
Những xáo trộn xã hội đã đưa đến sự chuyển động của con người cho dù con người muốn chống lại nó. Nhưng như trước tất cả sự đổi thay, người muốn giữ nguyên hiện trạng[21] thì chống lại sự đổi thay, vì họ sợ khi thay đổi một lãnh vực nào đó (công việc hay nhà ở) thì dần dà lại phải nhượng bộ các điều khác. Tông huấn Christus Vivit của Đức Phanxicô cũng đề cập đến những chuyển động đa dạng của người trẻ ngày nay: một kiểu chuyển động phổ biến đó là “di dân như là một mô hình của thời đại chúng ta” vì các lý do “chiến tranh, bạo lực, bách hại chính trị hay tôn giáo, hoặc để tránh những thảm hoạ tự nhiên do biến đổi môi trường và sự nghèo đói cùng cực” (CV 91), họ cũng có thể đi tìm một cơ hội và mơ ước một tương lai tốt hơn.
6) Ở Việt Nam, vào thời trước mốc 1986, thời “Đổi Mới,” nhiều người ra đi vì kinh tế hay chính trị tùy theo hoàn cảnh. Nhưng nhìn chung, mọi sự di chuyển địa dư đều nhắm đến một sự chuyển động xã hội và nghề nghiệp, và cũng thường xuyên là những sự chuyển đổi tri thức, tài chính hay tâm lý và những điều như thế này thường đe doạ những người đang nắm quyền lực và đang gây ảnh hưởng.[22]
Harvey Cox cho rằng: “một xã hội kỹ thuật tiến bộ sẽ chết ngạt nếu không biết chuyển động.”[23] Ông giải thích rằng những công việc mới thường xuất hiện rải rác mọi nơi. Sự sẵn sàng di chuyển sẽ tạo dịp được tiếp cận với những công nghệ mới. Kỹ thuật tiên tiến làm cho những người điều hành thiện nghệ nhất trong những nhà máy mau chóng trở thành lỗi thời.
7) Thật vậy, theo Thangavel Palanivel,[24] chuyên gia của Văn Phòng Phát Triển Con Người của Liên Hiệp Quốc, trong
suốt lịch sử phát triển nhân loại,
Các đô thị là trung tâm chính của học tập, văn hóa và đổi mới. Không có gì ngạc nhiên khi những quốc gia đông thành thị nhất thế giới có xu hướng giàu nhất và có sự phát triển con người cao nhất.[25]
Và vì thế, theo tác giả, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đang diễn ra có khả năng cải thiện hạnh phúc của các xã hội, cho dù chỉ có khoảng một nửa dân số trên thế giới sống ở các thành phố, nhưng họ tạo ra hơn 80 % GDP.[26] Các thành phố cũng trẻ hơn: nơi sinh sống của những người trưởng thành trong độ tuổi lao động và tương đối trẻ hơn so với các khu vực nông thôn, khiến chúng trở thành những nơi quan trọng để nắm bắt cổ phần nhân khẩu học. Và trên khắp thế giới, các thành phố đang đưa ra các sáng kiến nhằm giải quyết tình trạng đói nghèo, cải thiện cơ sở hạ tầng và giải quyết ô nhiễm.[27]
8) Như thế, sự thăng tiến xã hội trong nhiều tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các công ty, các viện nghiên cứu bậc cao, các trường Đại Học tiên tiến, …, do ảnh hưởng tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cuốn hút người trẻ từ các nơi về. Hệ luận trước mắt là sự ra đời của các khu công nghiệp mới, khu đô thị mới lại là những cánh cửa mở ra cho đại bộ phận thành phần lao động với tay nghề cao và thu nhập tương xứng “di dân, chuyển động” đến[28]
Ngoài ra, các đô thị còn là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động trẻ có chất lượng cao, cơ sở kỹ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài.
III. Thế Giới Đô Thị Hóa, Một Thế Giới Tục Hóa: Một Thách Đố Cho Người Trẻ
Chúng ta gặp thế giới nào đây? Thế giới toàn cầu "hic et nunc" vừa là thế giới tục hoá với tất cả chức năng của nó: một sự khuyến khích tiêu thụ, sử dụng vật chất tối đa, chạy theo lợi nhuận, đánh giá cao sự thành đạt, và cũng vừa là sự đô thị hóa cao độ, đẩy nông dân ra khỏi thôn xóm, lấn chiếm nông nghiệp.
1. Thế Giới Đô Thị Hóa Và Thế Giới Tục Hóa
1) Sự phát sinh ra một nền văn minh đô thị và sự giảm thiểu của tôn giáo truyền thống,[29] đó rõ ràng là hai cột mốc cho thời đại chúng ta và chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự đô thị hóa hình thành nên một sự thay đổi đông đảo và toàn diện trong phong cách con người sống chung với nhau,[30] và có khả năng trở thành một mẫu hình cho một thành phố hiện đại khi những áp dụng của khoa học cùng kỹ thuật tiên tiến đi vào tổ chức và đời sống của thành phố.
2) Sự tục hóa cũng là một phong trào thời đại. Nó ghi đậm nét sự thay đổi lên cung cách con người nắm bắt và hiểu đời sống cộng đồng của họ như thế nào, và nó chỉ xảy ra khi những trực diện với các vấn nạn của thị dân trong cuộc sống dám đặt mức tương đối cho những gương mặt thần thoại mà trước đây được xem như là tuyệt đối. Cung cách con người sống đời sống chung với nhau ảnh hưởng sâu đậm lên cách họ hiểu ý nghĩa của đời sống đó, và ngược lại… Vào thời này, thế kỷ XXI, thành phố thế tục xuất hiện đồng thời như là mô hình của đời sống chung của mọi con người trên thế giới,[31] và là biểu tượng nhân sinh quan của chúng ta về thế giới. Nếu xưa, người Hy Lạp nhận thức vũ trụ như là một thành phố[32] vĩ đại được trải rộng và người Trung Cổ xem thế giới như là căn trại mở rộng đến vô tận, thì người thành phố ngày nay kinh nghiệm vũ trụ như là đô thị của con người. Đó là lãnh vực của khám phá và cố gắng của con người trong đó không còn chỗ cho thần thánh. Thế giới trở thành công việc và trách nhiệm của con người. Con người hiện đại trở thành công dân của đô thị thế giới. Thế giới trở thành đô thị của nó và đô thị của nó đã vươn ra bao gồm thế giới. Tên của tiến trình này được gọi là tục hóa.
3) Tục hóa là gì?
(i) Nhà thần học Hòa Lan C. A. van Pursen nói đó là sự giải thoát con người "trước tiên khỏi sự giám hộ của tôn giáo và sau là của siêu hình trên lý trí và trên ngôn ngữ của con người."[33] Đó là sự nới lỏng của thế giới khỏi sự hiểu biết tôn giáo hay tựa tôn giáo về nó, sự đẩy lùi mọi thế giới quan thiển cận, sự phá vỡ mọi thần thoại siêu nhiên và biểu tượng linh thánh. Nó biểu đạt sự giải thoát lịch sử khỏi chủ nghĩa định mạng, sự khám phá của con người rằng thế giới được đặt trong lòng bàn tay họ, rằng không có gì để than phiền từ nay về số mạng hay các nữ thần hung ác mà họ phải tiếp cận. Tục hóa xảy ra khi con người quay mặt khỏi sự chú ý về thế giới bên kia và hướng về thế giới hiện tại và bây giờ.[34]
(ii) Ngắn gọn tục hóa là sự giải phóng con người khỏi sự giám hộ tôn giáo và siêu hình, chống lại sự quan tâm đến thế giới bên kia để qui hướng về thế giới này. Sự tục hóa là lẽ tất yếu của đời sống đương đại.
Đối với người Kitô hữu trưởng thành, "Tục hóa là hậu quả hợp lý của tác động của đức tin Kinh Thánh lên lịch sử."[35] Các nhà phân tích thần học xã hội đều cho là chúng ta khó mà hiểu được sự phát triển của các nền khoa học, đặc biệt là tự nhiên, cũng như những định chế dân chủ chính trị và tính đa năng văn hóa, mọi phát triển mà thường là ta gắn liền cho nền văn hóa Tây Phương, mà lại không nói đến sự thúc đẩy của Kinh Thánh.[36] Có những xung lực tiếp tục thúc đẩy nền văn hóa này mặc dù có thể cội nguồn của chúng đã bị lãng quên ngày nay.
(iii) Như trên ta đã nói, sự tục hoá đó là hạn từ để diễn tả sự độc lập hợp pháp của các giá trị trần thế mà không cần thiết phải viện dẫn đến những nguyên lý tôn giáo, để giải thích hiện tượng hay các mẫu hình đời sống ta sống trong quan hệ với thế giới tự nhiên và càng lúc nhân bản hơn. Chúng có những quy luật riêng nhưng luôn luôn chúng có như thế và chúng có sự tốt lành bẩm sinh.[37] Sống với sự tốt lành này thì đã làm vừa lòng Thiên Chúa.
Tuy thế người trẻ Kitô hữu thực tế biết cái hàm hồ cơ hữu thâm nhập thực tại nhân bản. Sự tục hoá là tốt lành và Thiên Chúa muốn như thế. Nhưng chúng ta biết nó có thể suy thoái thành chủ nghĩa duy thế tục.[38] Kitô giáo không dạy chúng ta chọn những giá trị trên trời mà chê bỏ những giá trị trần thế. Kitô giáo chỉ đòi chúng ta biết phân định giữa cái tốt lành thật và giả, giữa cái giá trị trên trời và trần thế. Sự độc lập của các giá trị trần thế không được phân rẽ chúng ta khỏi Thiên Chúa, nhưng phải làm chúng ta tự do hơn cho Ngài.
(iv)Vì thế, một thái độ phê phán đối với sự tục hóa thì luôn luôn cần thiết, chỉ vì con tim của chúng ta đã được tạo dựng theo cung cách mà khi nó yêu, nó yêu hoàn toàn và không chia sẻ. Có thể xảy ra là người Kitô hữu yêu các sự trần thế này và chợt cuối cùng nhận ra rằng họ chỉ yêu các sự này thôi. Thiên Chúa không còn là trung tâm của dự án cơ bản đời sống chúng ta. Ngài đơn thuần chỉ còn là đối tượng của các dạng là kinh nguyện mà không còn là đối tượng hay mục tiêu của mọi ước vọng của con người.
Có lẽ chỉ có thể qua cầu nguyện mà chúng ta có thể sống tục hoá chứ không duy thế tục. Chỉ có quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa mới cho phép thế giới tiếp tục bước đi như là một thế giới tục hoá mà không sợ thành duy thế tục.[39]
2. Trong Thế Giới Đô Thị Hóa Và Tục Hóa Người Trẻ Kitô Cần Đến Một Nền Thần Học về Sự Biến Trạng Xã Hội
1) Thoạt nhìn, ta nhận thấy tức khắc rằng một sự di động cao độ có ảnh hưởng đến tôn giáo truyền thống. Rõ ràng nó xô đẩy con người cách ly với chốn linh thánh của họ và đưa họ phải hòa nhập với những láng giềng tôn thờ một thần linh khác. Nhưng bởi vì như ta phân tích ở trên, nếu sự đô thị hóa và sự tục hóa có một mối liên kết quan trọng, chúng ta không cần thiết phải dừng lại than vãn như H. Cox nhận xét,[40] vì từ quan điểm Thánh Kinh nói ở đầu phần nói trên về tính di động, nó đã mang trong lòng tính tích cực cho bản thân công dân đô thị.
2) Nếu Giáo Hội cũng là một cộng đồng song hành với cộng đồng tục hóa của con người, một tầm nhìn thần học về thực tại thời nay hay theo cách nói của Cox, một nền thần học về sự biến đổi xã hội[41] ngày nay theo hướng Gaudium et Spes và trong một cách nào đó nhấn mạnh hơn của thông điệp Rei Socialis,[42] là hết sức cần thiết. Hiển nhiên nó giúp cho chúng ta, khi phân tích hiện trạng con người đang sống trong giới hạn không còn chấp nhận nổi vì quá bất nhân và vô luân, và mọi sự can thiệp chỉ do thiện ý đơn thuần và xuất phát từ ngoài biên thì thực sự không còn giá trị, thì phải có một sự tái phân bổ quyền lực và một sự công bằng thiết định, không phải chỉ để xoa dịu nhưng là để gây ảnh hưởng lên chủ nhân.[43]
3) Thật vậy, mô hình thành phố tục hóa có thể cung cấp cho người trẻ Kitô hữu khởi điểm để hiểu thành phố “techno-polis”[44] ngày nay, không đơn thuần là một sự kiện tĩnh, nhưng đúng ra như là một thực tại trồi hiện ra: Tục hóa và đô thị hóa luôn được nhìn như là một tiến trình và chúng chất chứa nơi lòng của chúng một sức mạnh hàm hồ có thể gây tác hại, như Đức Gioan Phaolô II thường cảnh báo cho chúng ta trong các thông điệp xã hội của ngài.
4) Trong ngôn ngữ của con người đương đại “những quyền lực thần thiêng và hàm hồ” mà Phaolô đã từng lưu ý dân thành Rôma, đó là những sức mạnh trong nền văn hóa đương đại đang làm tê liệt và bại hoại sự tự do con người. Qua dòng thời gian, con người đã kinh nghiệm về sức mạnh tha hóa họ dưới nhiều cách:[45] (1) Ở thời bộ tộc chúng xuất hiện dưới hình ảnh ma qủi, thần linh và các sức mạnh tự nhiên hay tinh tú;[46] (2) Vào giai đoạn chuyển tiếp đến nền văn hóa đô thị, con người từ khước nhìn nhận những sức mạnh này hoặc xem chúng như những chuyển động điều hòa với những mô hình mà ta có thể dự đoán được; (3) Ngay đến thế kỷ XIX con người vẫn còn ngờ vực về các sức mạnh nói trên và chúng chỉ được tái khám phá ở thời chúng ta theo ngôn ngữ của tâm lý chiều sâu:[47] Cái Id (Libido), cái vô thức tập thể, cái biện chứng của lịch sử, và ngay cái xác suất thống kê.[48]
5) Ta có thể tổng kết rằng, các trường lực này bao lâu vẫn còn mang các dạng tha hóa nói trên khi con người và nhất là người trẻ, đã để cho chúng xuất hiện trong cuộc đời mình, như những lực ngăn cản hay triệt tiêu việc sử dụng cách tự do của ta với đầy đủ trách nhiệm của mình trên định mạng của bản thân.[49]
Ta biết, như nền thần học Thánh Kinh khẳng định, tác động gây ảnh hưởng lớn của niềm tin Kinh Thánh lên con người đó là sự “khử thiêng” thế giới này:[50] (1) Tạo dựng như là khử ma thuật thiên nhiên;[51] (2) Xuất Hành như là sự khử thần thánh hóa chính trị;[52] (3) Giao Ước Sinai như là sự khử thánh hiến các giá trị.[53]
6) Tương tự trong thời Tân Ước, Đức Giêsu đến để loan báo Tin Mừng giải phóng con người khỏi mọi “quyền lực thần thiêng” tha hóa và ách nặng của Lề Luật mù quáng. Nhưng bản thân Ngài không tuyên bố là Lề Luật sẽ bị xóa bỏ. Thật vậy, ngày hôm nay, những năng lực chiều sâu “libido hay Id” và sức ép của nền kinh tế toàn cầu hóa vẫn còn đó trong xã hội chúng ta. Điều cơ bản cần phải hiểu là từ bây giờ, chúng không còn khả năng định mệnh hóa con người, và chính con người có khả năng và trách nhiệm quản lý chúng và sử dụng chúng có trách nhiệm trước Thiên Chúa.[54] Nói cách khác, về phía bờ con người, bởi vì con người được ban cho tự do, con người có thể sử dụng tốt hay xấu sự vật.
Rôma (1,25) chỉ ra con người đã sa ngã. Thay vì dùng sự tự do như của người con để tri ân Thiên Chúa về vũ trụ này đã ban cho con người, để sử dụng cách khôn ngoan và có trách nhiệm, con người “đã tôn thờ những loài thọ tạo.” Và hậu quả là con người đã trở nên nô lệ của sức mạnh mù quáng. Hành động của Thiên Chúa luôn như là biểu lộ sự trung tín[55] của Ngài, vẫn tiếp tục hiện thực những gì Ngài đã hứa, nay được biểu lộ nơi Đức Giêsu thành Nazareth, luôn kêu mời con người tự do khỏi mọi uy lực thiêng liêng tha hóa và đồng thời thúc bách họ hành xử có trách nhiệm và khôn ngoan trên những uy lực này.[56]
7) Nói tóm lại, theo như trên, chúng ta đã cố gắng giải thích sự xuất hiện hiện tượng tục hóa và đô thị hóa của cộng đồng con người dưới ánh sáng của Kinh Thánh, trước tiên, như là phạm trù của Tạo Dựng, Xuất Hành, và Giáo Ước Sinai, và sau nữa như là sự căng thẳng giữa Lề Luật và Tin Mừng. Theo H. Cox, chúng ta có thể vượt xa hơn một bước bằng cách sử dụng và “trắc nghiệm biểu tượng của thành phố tục hóa như một phạm trù mà qua đó ta có thể xây dựng ý nghĩa thần học của sự chuyển đổi nhanh chóng xã hội.”[57]
Vấn đề đặt ra ngay là, liệu biểu tượng thành phố tục hóa có thể cung cấp cho người trẻ Kitô hữu cách riêng một chìa khóa để hiểu đúng ý nghĩa của mọi sự đang thay đổi diễn ra ở trong thế giới toàn cầu hóa này, ví dụ một cách cụ thể, sự di động tính hay sự vô danh tính đến chóng mặt của thế giới đô thị này, nhưng đồng thời không rơi vào hai sai lầm cơ bản và cổ điển: Không dám nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong hoạt động của con người, hay một cách trái ngược hẳn muốn đồng nhất mọi chương trình hoạt động của con người với hành động của Thiên Chúa.[58]
8) Thật vậy, trước tiên, khi nhìn lịch sử như một tiến trình tục hóa, chúng ta nhận ra nó xuất hiện trước chúng ta, một đàng như là mang đầy ý nghĩa cho con người, nhưng một đàng hình như nó vẫn lỏng lẻo không áp đặt ý nghĩa này lên họ.[59] Mọi con người cũng như người trẻ vẫn tự do và là chủ của các biến cố, vì có thể phủ định nó hay đón nhận cũng như có thể diễn giải đúng hay sai ý nghĩa. Trong thành phố tục hóa, người trẻ cần học cách làm chủ vận mạng của mình một cách trưởng thành, khôn ngoan và với trách nhiệm.
Đàng khác, khi nói đến tiến trình đô thị hóa, theo nhà thần học Gibson Winter, trong tác phẩm, The New Creation as Metropolis (1963),[60] hay tuyệt tác Community and Spiritual Transformation Religion and Politics in a Communal Age (1989),[61] chúng ta có thể tìm thấy sự phong phú cho những biểu tượng tôn giáo từ ngay hình ảnh Giêrusalem Mới và Thành Phố của Thiên Chúa cũng như từ những thành phố đô thị hóa ngày nay. Thậm chí Harvey Cox cho rằng không có lý do gì mà người Kitô hữu lại không thể sử dụng những giấc mơ và ước vọng của công dân thành phố thuộc siêu xã hội “Utopia” như của Erewhon và Atlantis. Đó là những thành phố trong đó người ta bổ khuyết ước vọng tự do và giải phóng của thế giới tục hóa với tư tưởng quan hệ hỗ tương và sự tương tùy. Đó cũng là mô hình của một thành phố ra đời với một qui trình có định hướng nhưng trong đó các mục tiêu còn bỏ lửng, chưa hoàn tất.[62] Ví dụ, nhiều chương trình hay đồ áng của thành phố để lửng và mong mọi người có thể bổ sung theo thị hiếu hay góp ý. Sự tổ chức của thành phố trong hoàn cảnh đó rõ ràng thúc đẩy sự sáng tạo và nỗ lực của người dân. Nó không xuất phát từ chóp bưu.
Ý tưởng của thành phố tục hóa được nổi bật với tính trưởng thành và trách nhiệm. Nó không chấp nhận lối sống tùy thuộc trẻ thơ ở mọi mức độ của xã hội nhưng nhấn mạnh đến những mô hình tương quan mới trong quan hệ hỗ tương của con người. Người trẻ trong đô thị hóa phải cố gắng tìm ra cho mình một dạng hình sống phù hợp với sự tục hóa khi mà trật tự cổ xưa và mối liên hệ thánh thiêng của mô hình thời bộ tộc và nông thôn làng quê dần dần tan biến.
3. Ở Thế Giới Toàn Cầu Hóa, Người Trẻ Luôn Bị Cám Dỗ Bởi Lối Sống Đơn Chiều Kích
“Tháp nhập vào Đức Kitô là Đấng đã làm cho ta được sống, con người còn tiến tới một sự phát triển khác, một nền nhân bản siêu việt làm cho con người sống đầy đủ tột độ. Đó là mục đích tối hậu của việc phát triển con người” (Phaolô VI, PP 16).
1) Sống đạo thời toàn cầu hóa đòi hỏi chúng ta cần được thông tin về thế giới mình sống. Trong Tông Huấn Giáo Hội Á Châu (EA) khi nói đến sự thăng tiến con người tại Châu Á, các nghị phụ của Thượng Hội Đồng Á châu,[63] không khó công nhận tầm quan trọng của quá trình Toàn Cầu Hóa (TCH) kinh tế. Một đàng, các ngài, tuy nhìn nhận nhiều kết quả tích cực của TCH về kinh tế, nhưng cũng tỏ ra quan ngại về bóng tối của nó đặc biệt đang trực tiếp gây thiệt hại cho giới nghèo vì nó có khuynh hướng đẩy những nước nghèo ra bên lề những bang giao kinh tế và chính trị quốc tế.
2) Đàng khác, cái mà các ngài quan tâm hơn hết, đó là khía cạnh TCH văn hóa mà ngang qua các phương tiện truyền thông, đã mau chóng lôi kéo các xã hội Châu Á vào trong một thế giới đơn–chiều–kích, với một nền văn hóa của người tiêu thụ, vừa tục hóa vừa vật chất hoá[64] và đưa đến những xói mòn gia đình truyền thống và phẩm chất xã hội. Nhưng, như ước vọng của Đức Gioan Phaolô II phát biểu trong Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 1998, làm sao để “Toàn Cầu Hóa mà không bị ở bên lề TCH trong liên đới”?[65] Liệu Người Trẻ Kitô có thể đủ sáng suốt?
2) Trong khảo luận này tác giả muốn vận dụng một triết gia Tân Mac-xít để phân tích thế giới của chúng ta tuy rất “đa hệ,” nhưng thật ra cách chung đều thuyết cho một thế giới “đơn chiều kích”và một nhà thần học giải phóng, để chỉ ra đâu là sự giải phóng đích thực, và cuối cùng là các vị Giáo Hoàng của thời thế kỷ XX–XXI để giúp chúng ta soi rọi thế giới toàn cầu, locus tự nhiên chúng ta đang sống[66] và người trẻ Kitô hữu cần phải sống thế nào niềm tin Kitô của mình trong thế giới thật sự đầy thách đố, nhưng cũng rất đáng sống cho người môn đệ của Đức Kitô.
4. Một Sự Phân Tích Của Triết Gia Herbert Marcuse Về Thế Giới “Đơn Chiều Kích” Trong Thành Phố Tục Hóa
1) Herbert Marcuse[67] xuất hiện vào thập niên 1960 như “Cha Đẻ của Cánh Tả Mới” tại Châu Âu và Châu Mỹ, một lý thuyết gia xã hội “gay gắt,” một nhà chính trị hoạt động nhiệt tình và một giáo sư triết thời danh có nhiều ảnh hưởng trên giới sinh viên.[68] Sự phân tích của ông về viễn tượng của “Một Thế Giới Đơn Chiều Kích”[69] cung cấp cho chúng ta một cái nhìn phê phán về thế giới tư bản lẫn xã hội chủ nghĩa đương đại. Ý niệm về “một sự phản kháng toàn diện”[70] đem lại cho ông danh xưng lý thuyết gia về “sự thay đổi cách mạng và sự giải phóng khỏi xã hội sung túc thừa thãi.”[71]
Theo nhà thần học giải phóng Gustavo Gutierrez (1928- ), cho dù ngày nay ta có cố gắng phân tích các nét đặc trưng của tình trạng nghèo của các Nước Thứ Ba trong các khía cạnh bị thống trị (chính trị, kinh tế, văn hóa...) và áp bức khiến chúng ta bị cám dỗ dừng lại ở các khía cạnh giải phóng kinh tế, xã hội và chính trị, thì chúng ta phải học cách nhìn các vấn đề toàn diện và sâu xa hơn nhiều trong chiều sâu “Hữu Thể của nó và Thời Gian” (Heidegger), nghĩa là trong lịch sử.[72]
Rõ ràng,
Ước vọng lớn lao và sâu xa về sự giải phóng đang nung nấu lịch sử nhân loại thời nay để giải phóng họ khỏi tất cả những giới hạn ấy hoặc những gì không để cho con người có thể hoàn thành bản thân họ, ... cũng như những chướng ngại để sự tự do của con người được hiện thực.[73]
2) Phương Pháp Của Marcuse Mang Tính Bao Quát Và Thiết Thực
Ngay 1928, Marcuse đã cố gắng để làm một tổng hợp viễn tượng liên quan đến hiện tượng luận, chủ nghĩa hiện sinh và Mac-xít. Ông cho rằng kinh nghiệm hiện tượng luận và những hành động hiện sinh có thể làm tái sinh động thuyết Mac-xít mà chủ nghĩa giáo điều đã làm khô cằn. Ngoài ra ông còn xác tín rằng
Sự giải phóng cá nhân và một cuộc sống hạnh phúc cộng với sự biến đổi xã hội có thể đưa con người đi từ một thế giới tha hóa, đàn áp, áp bức đến một thế giới giải phóng toàn vẹn khỏi mọi ràng buộc…[74]
Thật vậy, Marcuse đã trình bày một viễn tượng triết học phong phú về con người trong tương quan của nó với thiên nhiên và xã hội. Đồng thời, ông không ngừng chỉ ra rằng nền khoa học, kỹ thuật và ngay chính lý thuyết về xã hội thì thường có một chiều kích chính trị và như thế, ông cung cấp cho chúng ta một cơ cấu chắc chắn trong sự phân tích ý thức hệ và chính trị của nhiều dạng xã hội, nền văn hóa và hệ tư tưởng trong thế giới đương đại sôi động mà chúng ta đang sống mà ngay chính ông không ngừng đấu tranh cho nó tốt hơn.[75] Từ đó, Marcuse sơ phác một nền văn minh không áp bức: Công việc không tha hóa, gợi xúc cảm, có chơi đùa giải trí, có tự do, giải phóng khỏi dục tính. Trong nền văn minh này, sản phẩm của xã hội thì đưa đến sự giải phóng và hạnh phúc. Nhà thần học giải phóng Gustavo Gutierrez có một nhận xét sâu sắc:
Những phân tích xã hội của Marcuse về xã hội kỹ nghệ hóa tiên tiến cho dù tư bản hay xã hội chủ nghĩa, như ta đã nói ở trên, đưa ông đến việc phê phán sự trỗi dậy của một thế giới đơn chiều kích và áp bức.[76]
Thật vậy, trong tuyệt tác “Con-Người-Đơn-Chiều-Kích,”[77] Marcuse cho rằng khả năng cách mạng trong xã hội tư bản đã lụi tàn và đã đến thời nó phải nhường bước cho một thế giới tiến bộ hơn. Trong xã hội kỹ thuật tiên tiến, một cách trớ trêu, những nhu cầu giả tạo lại có dịp phát sinh và chúng du nhập con người vào hệ thống xã hội của nó đặt nặng lên sản xuất và tiêu thụ.
Theo ông, các mass-media cũng như văn hóa, quảng cáo, quản trị công nghệ và những lối suy tư đương đại, tất cả đều tập trung ca ngợi lối sống hiện hành tiêu thụ giả tạo và cố gắng loại bỏ sự phê phán, phản kháng, đối kháng.[78] Vì thế, hệ quả tất yếu là đưa đến một thế giới đơn chiều kích trong suy tư, hành vi và làm khô cằn những suy tư cá nhân độc lập. Vấn đề sẽ trầm trọng hơn, theo Marcuse, khi mọi sinh hoạt xã hội, chính trị, truyền thông và kinh tế đều bị kiểm soát theo một mô hình quản lý tập trung khô cằn, độc đoán, rập khuôn của một thể chế.[79]
3) Một Áp Dụng: Lý Thuyết Xã Hội Của Marcuse Có Thể Đóng Góp Cho Sự Huấn Luyện Óc Biệt Phân Nơi Người Trẻ Kitô
(i) Thật vậy, viễn tượng của Marcuse vẫn mang một tổng thể tính của một nền triết học nhấn mạnh đến tính praxis trong sự tương tác biện chứng với những phân tích cụ thể về tình trạng xã hội, chính trị và nền văn hóa của thế giới đương đại. Nó đóng góp cho mọi người chúng ta một phương pháp rất uy lực và một dàn khung lý thuyết giúp chúng ta có thể dùng để phân tích thế giới toàn cầu hóa, như là người trẻ phải trực tiếp trực diện với tất cả hàm hồ của nó.
(ii) Trước hết, người trẻ cần học cách phê bình xã hội đương đại mà chúng ta đang sống trong đó. Với một thế giới thay đổi quá mau lẹ, mọi người và đặc biệt người trẻ, một cách khách quan, tất cả cần có một hoán cải về tầm nhìn về thế giới toàn cầu chúng ta đang sống.[80] Chúng ta cần được thông tin về thế giới của mình, cần được giúp đỡ hơn để biết quan tâm và hiểu được về những bàn thảo và chính sách cũng như sự giáo dục về những tác động quốc tế của những giao dịch thương mại và đầu tư trong nước hay nước ngoài.[81] Người trẻ học cách phân tích xã hội và phê bình về những tác động chính của hoạt động thương mại toàn cầu trên đời sống dân chúng, trên mức sống cả trong nước phát triển phương Bắc, cũng như các nước nghèo phương Nam, trên những triển vọng một xã hội dân chủ và tự do, và nền an ninh thế giới. Chương trình tìm cách trở thành một xúc tác cho một sự cố gắng giáo dục bền vững dân chúng.[82] Đó là một sự đáp trả cho những bàn thảo sôi nổi đượm đầy màu sắc chính trị về toàn cầu hóa, trong đó một sự thiếu hiểu biết giữa các người thiết kế chính sách, dân chúng, các giám đốc doanh nghiệp và các công nhân, có thể đe dọa xói mòn các thảo luận công khai về chính sách của đất nước trong những giao dịch thương mại tự do và thị trường tự do mở rộng.
(iii) Thứ đến, bằng cách ý thức được tính hàm hồ của một xã hội đơn chiều kích đưa đến, người trẻ cần phải học cách thách thức và phê phán những giá trị mà con người đang đề cao: lợi nhuận, tiền tài, quyền lực, kể cả sự phát triển, sự hưởng thụ. Thật vậy, theo Marcuse, một cuộc cách mạng chỉ đưa lại sự phát triển cho những lực sản xuất và nâng những tiêu chuẩn đời sống nhân dân cao hơn thì vẫn chưa đủ vì thật ra đó chỉ mới là những khía cạnh vật chất. Nó còn phải đi đến
Chiều kích luân lý nữa, ví dụ, mọi sự phát triển hay thăng tiến nào đó phải tạo ra tình liên đới giữa nhân dân trong một nước và giữa các dân tộc, xóa bỏ sự nghèo nàn và bất hạnh vượt xa mọi biên cương quốc gia và những lãnh vực lợi ích, để đạt đến hài hòa xã hội và hòa bình.[83]
Một minh họa, khi nhóm công nghiệp phát triển nhất thế giới (G8) họp tại Gleneagle, Scotland (6/7/05) tuyên bố xóa nợ cho các nước nghèo nhất với số tiền vượt qúa 55 tỷ USD, trong đó 18 nước sẽ được xóa ngay 40 tỷ USD, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc vào thời đó là Kofi Annan phát biểu rằng vấn đề mới chỉ là bước đầu, vì trong tính liên đới các nước giàu sẽ tiếp tục giúp làm sao để các nước nghèo không lại sa vào con nợ trầm kha của họ. Ông cho rằng, mục tiêu xoá hết nghèo của Liên Hiệp Quốc đến hết năm 2015 không thể hiện thực nếu tình hình tại các nước nghèo vẫn xảy ra
Công nhân thì thất nghiệp hoặc lương quá thấp, nông dân hết mất mùa lại bị ép giá nông sản, phụ nữ bệnh tật triền miên, trẻ em suy dinh dưỡng, chết yểu quá nhiều...[84]
(iv) Nói cách khác các nước phát triển phải làm một dấn thân hơn nữa trong sự chia sẻ và nâng đỡ các nước nghèo và phải tạo thêm các điều kiện thuận lợi để họ có thể vươn lên: Dẹp sự cạnh tranh bất bình đẳng trong sự trợ giá, giảm thu thuế, cung cấp chuyên viên, có chính sách huấn luyện... đồng thời có chính sách củng cố cộng đồng địa phương và thị trường, nhấn mạng đến tính trung thực, lấy sự hoàn tất trọn vẹn một công việc làm mục tiêu chung và đồng thời có một sự tái suy tư về cách quản lý tốt trong thế giới TCH.[85]
Và vì thế, không phải luôn có được sự độc lập và tự trị là đã giải quyết xong các vấn đề xã hội trong đất nước. Mô hình tiêu biểu mà tổng thống Mendela của Nam Phi[86] rất đáng được phân tích và áp dụng. Khi đã xóa bỏ được chế độ apartheid, cái âu lo của ông không những là vấn đề ổn định chính trị và kinh tế, nhưng còn là phải làm sao đi đến sự hòa hợp dân tộc giữa người da đen (trước đây bị phân biệt) mà phần lớn sẽ nắm chính quyền và người da trắng (trước đây được ưu đãi) và xóa bỏ bớt sự bất bình đẳng trong xã hội trong tài nguyên, công việc, khả năng hội nhập...
5. Theo Gustavo Gutierrez, Thế Giới Đô Thị Hóa Phải Được Đưa Đến Một Sự Giải Phóng Đích Thực
1) Xã hội toàn cầu hóa không chỉ bao gồm viễn tượng kinh tế và văn hóa, như ta đã nói nhiều lần ở trên, con người và người trẻ cách riêng phải được mời gọi đi đến một sự giải phóng đích thực.
Gustavo Gutierrez, khi vận dụng các lý thuyết phê phán xã hội của các triết gia đương đại về xã hội thì cho rằng ước vọng sâu xa của mọi dân tộc, đó là một sự giải phóng nào đó. Hiển nhiên, ta biết, tuy ước vọng này lúc ban đầu có thể bị nhận thức một cách hàm hồ lộn xộn, điều này cũng dễ hiểu, nhất là khi một đất nước vừa thoát khỏi một sự lệ thuộc chính trị để bước vào một thể chế tự do, thì dễ bị choáng ngợp trước ánh sáng chói chan của một thế giới hào nhoáng vật chất hiển hiện ra bên mình. Với dòng thời gian và với những giá đắt phải trả, các dân tộc càng ngày càng ý thức cao hơn về điểm này. Tại nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt thế giới thứ ba, khắc khoải này đã trở thành một qui luật cho mọi hành vi dấn thân của họ. “Sự dấn thân cho con người chính là cột xương sống hiệu lực hóa và sinh động hóa sự phát triển nói trên trong lịch sử.”[87] Lịch sử được hiểu như là một quá trình giải phóng con người chính là coi tự do như một chinh phục lịch sử: đó là hiểu rằng bước tiến từ một tự do trừu tượng đến một tự do đích thực chỉ có thể tồn tại nếu phải có một quyết tâm đấu tranh chống lại những lực áp bức con người:
Mục đích không chỉ là những điều kiện sống tốt đẹp hơn hay một thay đổi triệt để các cơ cấu, cho dù là một cuộc cách mạng xã hội; còn hơn thế nhiều: cần có một sự sáng tạo liên tục, không ngừng của một con người mới để làm người, một cách mạng văn hóa trường kỳ.[88]
Thật vậy, đối với Marcuse, một lý thuyết phê phán xã hội hoàn toàn mang tính lịch sử và phải biết khái niệm hóa những hiện tượng nổi bật của thời hiện tại và những thay đổi xã hội của một hệ thống xã hội trước đó.[89] Nói cách dễ hiểu, cần biết vận dụng những tình huống hiện tại của xã hội[90] và đồng thời khá mềm dẻo để chấp nhận một quan điểm năng động và lịch sử về con người trong định hướng dứt khoát và sáng tạo hướng về tương lai mình, đó là hoạt động tích cực trong hiện tại với một dự phóng mãnh liệt vào tương lai: đem lại lợi ích cho ngày mai.[91] Vượt quá chủ nghĩa duy yếu tính, Gutierrez giải thích thêm rằng
Lịch sử không phải là sự phát triển của các tiềm năng hiện hữu nơi con người, đúng hơn nó là cuộc chinh phục những cách thức mới mẻ làm người và đầy phẩm chất khác nhau để hoàn tất một sự viên thành này ngày càng toàn diện và hoàn bị hơn của cá nhân trong sự liên đới với toàn thể nhân loại... [92]
6. Viễn Tượng Của Đức Phaolô VI, Đức Gioan Phaolô II Và Đức Bênêdictô XVI: Phải Đi Đến Một Nền Nhân Bản Siêu Việt
Sự giải phóng đích thực, theo các Giáo Hoàng này thì chỉ có thể là một sự giải phóng toàn diện.
1) Đức Phaolô VI trong Thông Điệp Populorum Progressio,[93] cho thấy viễn tượng của ngài đã vượt quá tầm nhìn của Gaudium et Spes, mới chỉ dừng lại ở những nhận định cũng như chỉ mới nêu ra những hướng tiêu cực của sự phát triển kinh tế.[94] Ngài đã nói đến việc xây dựng một xã hội mới, trong đó, mỗi người, không phân biệt nòi giống, tôn giáo, quốc tịch, có thể sống một cuộc sống đầy đủ là con người, không còn bị áp bức, không còn bị thiên nhiên chưa được chế ngự hành hạ.[95] Lần đầu tiên, một thông điệp xã hội của Giáo Hội đã có một viễn tượng về các vấn đề xã hội trong một bối cảnh có chiều kích toàn cầu và luân lý[96] vì các sự việc đụng đến lương tâm, nguồn gốc của các quyết định luân lý của con người. Theo cách nói đó mỗi con người và nhất là giới trẻ Kitô, “phải có ý thức” lưu tâm trong những quyết định, có tính cách cá nhân hay ở tầm mức quốc gia, tới mối tương quan toàn cầu, sự tương tùy giữa nhau. Phaolô VI đã gọi bổn phận luân lý đó là “bổn phận liên đới.”[97]
2) Đức Gioan Phaolô II, trong thông điệp đăng quang Redemptor Hominis,[98] cũng đã nói đến cái khắc khoải của con người trong bước đường vươn lên làm người trọn vẹn: con người tuy tiến bộ về khoa học kỹ thuật với tất cả sản phẩm do công lao bàn tay mình làm ra, cũng như của lao công trí óc, của các xu hướng ý chí... lại trở nên là nạn nhân của các sản phẩm của chính mình và rơi vào sự tha hóa, chỉ vì tất cả sự phát triển trên không được đi kèm sự phát triển đạo đức.[99] Câu hỏi thách thức của ngài cho thế giới: “Tiến bộ do con người làm ra và bảo vệ có khiến cho đời sống con người trên trái đất trở nên nhân đạo hơn về mọi phương diện chăng?”[100]
Kỷ niệm 20 năm Populorum Progressio, Đức Gioan Phaolô II trong thông điệp Sollicitudo Rei Socialis,[101] khi phân tích bức tranh toàn cảnh của thế giới hôm nay[102] thoạt tiên, vẫn phải nêu lên những vấn đề tiêu cực từ hai mươi năm qua vẫn còn đó: Cái hố chia rẽ sâu xa giữa các vùng gọi là phương Bắc đã phát triển và các vùng phía Nam đang phát triển, không những trong khía cạnh kinh tế (của cải vật chất phân chia bất bình đẳng) mà còn trong lãnh vực văn hóa, nhân quyền (nạn mù chữ, tình trạng khó khăn không học lên cao, không khả năng tham gia vào việc xây dựng chính đất nước mình, quyền cơ bản con người, sự kỳ thị chủng tộc).[103] Nhưng theo ngài, bức tranh toàn cầu không chỉ có các bóng tối. Nó còn chất chứa những điểm sáng tích cực: con người có ý thức hơn về phẩm giá của mình; có hiểu biết hơn rằng nhân loại cần liên kết với nhau trong một vận mạng chung; vượt tâm trạng lo âu sợ hãi[104] để thấy ý tưởng càng lớn dần về sự thiện mà mọi người được mời gọi đến, và hạnh phúc mà con người muốn đạt đến; phải có sự quyết tâm cố gắng của tất cả để vượt qua cái ích kỷ sâu xa, cái cám dỗ hủy diệt sự sống; có ý thức về một nền hòa bình không thể chia cắt và đòi hỏi biết tôn trọng công bằng cùng sự quảng đại phân phối các thành quả của sự phát triển; biết quan tâm sâu sắc đến môi sinh.[105]
Khi phân tích hạn từ phát triển, Đức Gioan Phaolô II không cho rằng đó là tiến trình theo đường thẳng, máy móc, vô giới hạn, tự thân có thể tiến đến một sự hoàn thành bản thân.[106] Theo ngài, một quan niệm như thế gắn liền với khái niệm tiến bộ máy móc đã phá sản của triết học Thời Ánh Sáng mà hậu quả đưa đến hai cuộc chiến tranh thế giới. Ngài cũng cho rằng phát triển cũng không chỉ gắn liền với khía cạnh kinh tế.[107] Nó không chỉ nằm trong sự tích lũy của cải dư đầy, chiếm hữu lợi ích của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, tài nguyên và các tiềm năng, điều mà ngài đã cảnh giác, nếu tất cả không được sử dụng theo một ý định đạo đức, như chúng ta đã nêu ở trên trong thông điệp Redemptor Hominis, thì chúng chỉ quay lại chống con người. Theo Đức Gioan Phaolô II, một sự phát triển đích thực phải giúp con người, nhất là người môn đệ trẻ Kitô, vượt lên sự nô lệ của chiếm hữu, của sự hưởng thụ trực tiếp mà nền văn minh tiêu thụ cung cấp,[108] sự tùng phục mù quáng vào sự tiêu thụ thuần túy. Nói cách chung, đó là một hình thức duy vật chủ nghĩa thô đại không thể đem lại sự thỏa mãn tận căn vì cái “có” không thể thay thế cái “là” để làm thỏa mãn ước vọng vô biên của con người.[109]
Nói tóm lại, theo Đức Gioan Phaolô II,[110] một sự phát triển không chỉ có tính cách kinh tế nhưng phải được đánh giá và định hướng theo thực tại ơn gọi của con người, và xét theo cách toàn diện, đó là mối quan tâm đến tham số siêu việt nằm trong bản tính đặc thù của con người, được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Ngài (St 1,26), và được mời gọi cho một cuộc sống vĩnh cửu. Diễn tả cách khác, khái niệm phát triển vượt qua khái niệm “thế tục”: tuy vẫn mang tính cách kinh tế xã hội, nhưng nó vẫn còn biểu thị chiều kích chính yếu cùng đích trong ơn gọi làm người:[111] Con người phải là chủ tể vật chất, biết quản trị khôn ngoan và có trách nhiệm.
3) Trong thông điệp Hoà Bình 2006[112] Đức Bênêdictô XVI, tái xác nhận viễn tượng của vị tiền nhiệm của mình, khi nói đến một nền hòa bình bền vững với một tương lai an bình cho thế giới, thì xác tín rằng
Sự tôn trọng con người sẽ phát triển hòa bình, và khi xây dựng hòa bình thì những nền tảng được đặt trên một học thuyết nhân bản toàn diện đích thực.[113]
Ngài cho thấy phẩm giá con người xuất phát từ yếu tính con người là hình ảnh Thiên Chúa, và vì thế họ “Không phải là một vật gì đó, nhưng là một ai đó, có khả năng tự ý thức, tự kiềm chế và tự trao ban và khả năng đi vào hiệp thông với tha nhân.”[114] Nhưng phẩm giá con người không dừng ở chỗ những khả năng nhân bản này, phẩm giá lớn lao của con người đáng kính trọng còn ở chỗ,
Nhờ ân sủng mỗi người được mời gọi kết ước với Đấng Tạo Hóa, được mời gọi trao hiến cho Ngài một sự đáp trả bằng đức tin và tình yêu mà không một thụ tạo nào khác có thể thay thế họ.[115]
Đức Bênêdictô XVI còn cho thấy hệ luận của phẩm giá của con người, là trưởng thành trong khả năng yêu thương và đóng góp cho sự phát triển thế giới, canh tân nó trong công bằng và hòa bình.[116] Thật vậy, lấy lại lời phát biểu của Đức Gioan Phaolô II ở Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, ngày 5/10/1995, cho rằng “chúng ta không sống trong một thế giới phi lý và vô nghĩa…, (vì) có một logic luân lý được thiết định trong đời sống con người và làm cho mọi cuộc đối thoại giữa cá nhân và các dân tộc là khả dĩ,”[117] ngài giải thích thêm, đó là vì “từ khởi nguyên mọi sự, Ngôi Lời là hằng Hữu và là Lý Trí chớ không phải là Phi Lý”[118]
Cái tính logic này mà cả hai vị Giáo Hoàng đều nói đến, đó là một “qui phạm siêu việt”[119] mà Đức Bênêdictô cho là được ghi tạc vào tâm khảm con người. Theo ngài, hòa bình là một nhiệm vụ đòi hỏi mọi người một sự đáp trả biệt vị, phù hợp với chương trình của Thiên Chúa, và tiêu chuẩn thúc đẩy sự đáp trả đó là vì chính cái qui phạm siêu việt đó. Thật vậy, Đức Bênêdictô XVI nhấn mạnh như các vị tiền nhiệm của mình, rằng “nếu việc phát triển chỉ giới hạn vào khía cạnh kỹ thuật kinh tế mà bỏ qua chiều kích tôn giáo và đạo lý, nó không còn là sự phát triển con người toàn diện.”[120]
Chính vì thế, ngay trong thông điệp đăng quang của ngài, Deus Caritas Est, Đức Bênêdictô đã tố cáo những triết thuyết xã hội vô nhân đạo đã bần cùng hóa con người, vì theo ngài, không thể nhân bản hóa thế giới khi từ chối hành động cách nhân đạo hic et nunc, trái lại phải hành động với tất cả sự đam mê, với “con tim biết nhìn” của người Samari nhân hậu. Và trong một sự khẳng định thật Kitô, theo nghĩa như chính Đức Kitô tuyên bố trong Tin Mừng, ngài nói “Chỉ có việc phục vụ tha nhân mở mắt cho tôi thấy điều Thiên Chúa làm cho tôi và Chúa đã yêu thương tôi như thế nào.”[121]
IV. Kết: Người Trẻ Kitô Theo Christus Vivit
1. Người Trẻ, “Hiện Tại” Của Thiên Chúa
1) Sống trong thế giới đô thị hóa, theo Đức Phanxicô, Người Trẻ vẫn là hiện tại của Thiên Chúa”[122] vì họ hiện đang làm phong phú thế giới bằng những đóng góp của họ,” và dưới nhiều dạng.[123]
2) Nhưng trước một thế giới toàn cầu hóa, tục hóa, ngài cũng cảnh báo biết nhiều mối hiểm nguy cũng đang rình chờ họ. Những nơi ở vùng chiến tranh, “nhiều người trẻ bị nhồi nhét ý thức hệ, trở nên dụng cụ và bị sử dụng như bia đỡ đạn hoặc như một lực lượng để tiêu diệt, đe dọa hoặc chế giễu người khác).[124]
Một số lớn hơn chịu đau khổ ở những hình thức bị loại trừ và gạt sang bên lề xã hội vì những lý do tôn giáo, những trẻ vị thành niên và những người trẻ lầm lỡ.
Đứng trước những phát triển của khoa học về kỹ thuật y sinh và khoa học thần kinh, người trẻ “cũng có thể bị cám dỗ làm cho họ quên rằng sự sống là một món quà, rằng mọi người chúng ta được tạo dựng và giới hạn, rằng chúng ta dễ bị công cụ hoá bởi những người nắm giữ quyền lực công nghệ”[125]
Ngoài ra, “Môi Trường Số” đã tạo nên “một cánh thức mới về truyền thông” và “có thể dễ dàng tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin độc lập. Ngày nay website và mạng xã hội trở thành “nơi không thể thiếu để tiếp cận và hoà đồng với người trẻ.” Nhưng “đây cũng là lãnh địa của sự cô đơn, lèo lái, khai thác và bạo lực đến trường hợp cực đoan của web đen. Phương tiện số có thể cho thấy nguy cơ phụ thuộc, tách mình và dần mất đi tương quan với thực tế cụ thể.”[126]
2. Lời Đáp Trả của Rabbi Giêsu Với Một Người Trẻ (Mc 10,17-31)[127]
1) Đây là một trong những đoạn Tin Mừng Marcô gây ấn tượng mạnh mẽ nới các bạn trẻ Kitô giáo. Thầy Giêsu nói với chàng trai trẻ giàu có, nếu anh ta muốn vào Nước Trời, anh phải bán tất cả gì anh có, bố thí cho người nghèo, và bước theo Ngài. Vấn đề đặt ra ở đây mà Thầy Giêsu muốn nhấn mạnh, đó là, không ai có thể đòi vào Nước Trời, từ chính công lao của bản thân: tất cả chỉ có thể vào đó với một niềm tin trẻ thơ và hoàn toàn trông cậy vào Thiên Chúa.
2) Tin Mừng nói chàng trai trẻ chạy nhanh và bái qùy trước Đức Giêsu. Chắc chắn không có gì giả dối vì ở câu 21 Marcô viết “Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến.” (Phần đông các bản dịch nước ngoài đều dịch sát bản Hy Lạp “Jesus looked at him and loved him” (Ὁ δὲ Ἰησοῦς ἐμβλέψας αὐτῷ, ἠγάπησεν αὐτὸν). Có một bản dịch tôi cho là đi rất sát vào tâm hồn Đức Yêsu: “Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và Người Cảm Thấy Ấm Lòng (J.B. Phillips New Testament).[128]
Có lẽ Đức Phanxicô đã nghĩ như thế khi Ngài viết tương tự “Cái nhìn của Thiên Chúa Cha” vào người trẻ đó là “cái nhìn trân trọng và nuôi dưỡng những hạt giống thiện hảo đã được gieo trong tâm hồn họ” (Christus Vivit, CV 67).
3) Chàng thanh niên này thật là hăng hái (“Anh chạy nhanh”) như những người trẻ khác, anh muốn “làm” nhiều hơn nữa với việc anh đã quảng đại “giữ” những lệnh truyền mà Đức Giêsu nói đến. Chúng tựa như “những hạt giống thiện hảo” mà anh đã ấp ủ. Và nay trước Rabbi Giêsu mà anh gọi “Ngài,” với “tinh thần cởi mở của người trẻ thích đi tìm những chân trời mới và những thách đố lớn[129] anh đã bộc lộ. Đức Phanxicô đã chú giải trước lời bộc trực của người trẻ: “Tất cả những điều này tôi đã tuân giữ từ lúc còn trẻ” (10, 20). Ngài đã viện dẫn đến TV 71, 5.17 để diễn tả tâm hồn người trẻ: “Lạy Chúa, Chúa là niềm hy vọng của con, ..., là niềm tin tưởng của con từ khi con còn trẻ, ... Chúa đã dạy dỗ con từ khi con còn trẻ và giờ đây con loan báo những kỳ công của Ngài” (CV, 17).
4) Nhưng đáng buồn cho chàng thanh niên trẻ này, anh đã “hối tiếc về việc đã dành tuổi trẻ của mình làm người tốt, khi mở lòng ra cho Chúa và sống một cách khác.” Theo Đức Phanxicô, thật ra, “tất cả những điều ấy không hề lấy mất tuổi trẻ của anh ta, nhưng lại làm cho tuổi trẻ anh mạnh mẽ và được đổi mới: “Tuổi trẻ của ngươi được đổi mới tựa chim bằng” (Tv 103,5). Nhưng chàng thanh niên giàu có kia, tuy đã trung thành với Chúa khi còn trẻ, lại để cho thời gian cướp đi những giấc mơ vì anh yêu thích của cải của mình hơn (Cf. Mc 10,22; CV 17).
Theo Đức Phanxicô, thực ra, tinh thần của anh đã mất đi sự trẻ trung quảng đại, vì anh gắn bó với của cải và tiện nghi. Miệng thì nói anh muốn một điều gì đó hơn nữa, nhưng khi Chúa Giêsu bảo anh rộng tay phân phát của cải của mình, anh mới nhận ra rằng anh không thể từ bỏ những gì mình đang có. Cuối cùng, “nghe những lời này, chàng thanh niên buồn bã bỏ đi, vì anh có nhiều của cải” (c. 22). Anh đã từ bỏ tuổi trẻ của mình.
Nói theo phân tích của Marcuse và Gustavo Gustierrez, anh ta vẫn còn đang sống trong thế giới “Đơn Chiều Kích” của hưởng thụ của vật chất.
3. Đức Kitô Phục Sinh, Luôn Tươi Trẻ Cho Người Trẻ
1) Đức Giêsu đã sống lại và Ngài muốn cho mọi người kể cả người trẻ, thành công hay thất bại như chàng trai trẻ của Tin Mừng Marcô được
Tham dự vào nét mới mẻ của cuộc Phục Sinh ấy. Ngài là nét trẻ trung đích thực của một thế giới già cỗi, cũng là nét trẻ trung của một vũ trụ “sắp sinh nở” (Rm 8,22) đang chờ được mặc lại ánh sáng và sự sống của Ngài.[130]
Sức mạnh Phục Sinh cho toàn vũ trụ, cho thế giới đô thị hóa, cho mọi loài đang sống trong thế giới này, thực vật, động vật, con người, và nhất là người trẻ, có cơ may khi quyết tâm ở bên Ngài, tất cả
Được uống từ nguồn mạch đích thực có sức làm cho những giấc mơ, những kế hoạch và lý tưởng cao cả của (con người) chúng ta luôn sống động, đồng thời thúc đẩy chúng ta loan báo một cuộc sống thật đáng sống.[131]
2) Đức Kitô Thành Nazareth, chắc chắn vẫn đang mời gọi các bạn trẻ Kitô theo gương của những trang lứa của họ, những Anrê Phú Yên, Kateri Tekakwitha, Đaminh Saviô, Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Giorgio Frassati, Marcel Callo, và nhất là Carlos Acutis, thần đồng tin học… “thắp lên những ánh sao trong đêm tối cho các bạn trẻ khác,” những trang lứa của họ, khi “biết nhìn lên những vì sao đích thực, những dấu chỉ đủ loại mà Ngài ban tặng để họ không chỉ đứng nhìn, nhưng bắt chước người gieo hạt: họ ngắm nhìn các vì sao trên trời để biết cách trồng trọt.”[132] Nhưng vượt qua các vì sao, “chính Đức Kitô là sao mai chiếu rạng” (Kh 22,16), ánh sáng hy vọng rạng rỡ cho mọi người.[133]
3) Nhưng có một người vượt lên mọi người, đáng là mẫu gương cho người trẻ, khi họ muốn học gương quảng đại dấn thân, ngay khi Người chưa nhận ra rõ ràng sự mời gọi của Thiên Chúa, con người đó, Đức Phanxicô gọi Người đó là Người không bao giờ cần “mua bảo hiểm nhân thọ,” đã mạo hiểm và vì thế Người trở nên mạnh mẽ, trở nên một influencer (người có uy thế). Người là một influencer của Thiên Chúa qua tiếng Fiat. Đức Phanxicô cho rằng, ngày nay, Đức Maria là người Mẹ chăm sóc họ, những người con của Mẹ; trên hành trình cuộc đời họ thường gặp mệt mỏi và thiếu thốn, Đức Maria sẽ soi sáng tuổi trẻ của họ luôn mãi.[134]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Cox, Harvey. The Secular City: Secularization and Urbanization in Theological Perspective. New Jersey: Princeton University Press, 2013 (1967).
Gioan Phaolô II. Centesimus Annus. trans. ĐCV Thánh Giuse. Sài Gòn, 1991.
Gioan Phaolô II. Thông Điệp Bách Chu Niên. trans. ĐCV Thánh Giuse. Sàigòn, 2000.
Gioan Phaolô II. Ecclesia in Asia. (1999). (trans Ant. Nguyễn Ngọc Sơn & Phêrô Đặng Xuân Thành. Tông Huấn Giáo Hội Tại Á Châu. Sàigòn: TGP Tp. HCM, 2000.
Gioan Phaolô II. Sollicitudo Rei Socialis. (1987). trans. ĐCV Thánh Giuse. Thông Điệp Quan Tâm Đến Vấn Đề Xã Hội. Sàigòn: ĐCV Thánh Giuse, 2000.
Gioan Phaolô II. Redemptor Hominis. (1979). (trans. ĐCV Thánh Giuse. Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Con Người. Sàigòn, 2000.
Gutierrez, Gustavo. Theology of Liberation. New York: Orbis Book, 1973. trans. Anon. Thần Học Giải Phóng. Sàigòn, 1979.
O’Murchú, Diarmuid. Our World in Transition: Making Sense of a Changing World. Quezon City: Claretian Publication. 2003.
Phaolô VI. Evangelii Nuntiandi. (1975). trans. Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng. Hành Trang Truyền Giáo, số 8.
Phaolô VI. Octogesima Adveniens. 1971. trans. ĐCV Thánh Giuse. Thông Điệp Bát Thập Niên, 2000.
[1] Ông đã 3 lần đoạt giải Pulitzer, (tựa như giải Nobel cho báo chí,) 2 lần cho mảng Phóng Sự Quốc Tế (International Reporting, 1983,1988) và 1 lần cho mảng Bình Luận (Commentary, 2002). Ông là tác giả của các tuyệt tác “Chiếc Xe Lexus và cây Olive” (The Lexus and the Olive Tree, 1999), nhất là cuốn Thế Giới Phẳng “cuốn sách Best Seller về lĩnh vực khoa học kinh tế trên thế giới” (The World Is Flat, 2005), Nóng, Phẳng và Đông Đúc (Hot, Flat and Crowded, 2008), Lục: Cái Đỏ, Cái Trắng và Cái Xanh Mới (Green: The New Red, White and Blue 2007).
[2] Cũng nên xem Charles-Albert Michalet. Qu’est ce que la Mondialisation. Paris: La Découverte/Poche. trans. Trương Quang Đệ. “Cách Tiếp Cận Mới về Toàn Cầu Hóa.” Suy Nghĩ Về Toàn Cầu Hóa. tr. 15-38. Đà Nẳng: NXB Đà Nẵng.
[3] Theo Thomas Friedman, thế giới đương đại không hoàn toàn phẳng hay siêu phẳng như sa mạc, mà là một chuỗi các ốc đảo hay quần thể phong phú ở mọi chiều kích, từ kinh tế, văn hóa, quan điểm, …, nhưng lại liên kết chặt chẽ qua lại với nhau.
[4] Nó đưa đến một tiến trình thật sự làm thay đổi tập quán văn hóa, và quá trình đón nhận dân nhập cư sẽ dần dà ít nhiều làm thay đổi sắc thái, cơ cấu văn hóa bản địa. Rõ ràng, đây là khu vực cần đến những chính sách điểm tựa vững vàng hơn bao giờ hết, bởi đặc tính dễ phát sinh va chạm, tranh chấp và xung đột.
[5] Ví dụ sự kiện nổi tiếng vào năm 1830, khi người Anh áp dụng lò hơi nước để làm ra đầu máy xe lửa kéo cả đoàn các toa đi từ trung tâm thành phố dệt Manchester (Anh) đến tận cảng Liverpool và trên đường đi đưa người trẻ nông thôn ra thành phố làm công nhân dệt.
[6] Cf. <https://www.worldbank.org/en/topic/urbandevelopment/
overview>.
[7] Theo báo cáo khác của WB: Vào năm 2003, 48% dân số thế giới sống ở các khu vực thành thị và dự kiến hơn 50% sẽ làm như vậy vào năm 2007. Năm 2002, có 175 triệu người di cư quốc tế. Dựa trên dữ liệu nhập cư hiện có, người ta ước tính rằng khoảng 15%, hay 26 triệu, là thanh niên.
[8] Mỗi ngày có hàng ngàn thanh niên cố gắng theo đuổi cuộc sống bấp bênh ở các nước giàu có, thường được thúc đẩy bởi những thông tin không thực tế với những kỳ vọng cao. Một ngành song song gồm các đại lý bất hợp pháp du lịch, môi giới việc làm và người trung gian được hình thành, đi vào chỉ đạo việc buôn bán những người di cư này. Hai thập kỷ qua đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể nạn buôn bán trẻ em gái và phụ nữ trẻ, những người thường bị dụ dỗ làm gái mại dâm. Phụ nữ và trẻ em gái nghèo, không được đào tạo bài bản hoặc thuộc các nhóm bản địa, dân tộc thiểu số, nông thôn hoặc người tị nạn là những đối tượng dễ bị mua bán nhất.
[9] <http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2020-06-06/dan
-so-thanh-thi-con-thap-muc-tieu-do-thi-hoa-chua-dat-87777.aspx>.
[10] Cf. H. Cox. The Secular City. tr. 46. 47.
[11] Fundamentalism> chủ nghĩa cơ hữu, bảo thủ cực đoan.
[12] André Fermet & R. Marlé “Théologies D’aujourd’hui.” Colllection “Foi Chrétienne.” No 11. Paris: Le Centurion, 1975 (1973). tr. 151-154.
[13] “The modern city is a mass movement.” H. Cox. Op. Cit. tr. 43.
[14] Cf. Ibid.
[15] Trong thông điệp Octogesima Adveniens (Bát Thập Niên) (1971), Phaolô VI đã chỉ ra hiện tượng đô thị hóa: Sự thiếu quan tâm đến việc tái qui hoạch và cải thiện đời sống người nông dân làm cho đời sống họ ở trong hoàn cảnh kinh tế thấp kém và cơ cực khiến họ phải bỏ ra đi sống chen chúc ở những vùng ngoại ô thành phố (số 8).
[16] H. Cox. Op. Cit. tr. 43.
[17] Thật ra các tác phẩm lớn trên thế giới, từ “Cuộc Phiêu Lưu của Ulysse” của tác giả vĩ đại Hylạp Homer hay tiểu thuyết “Ulysses” của James Joyce, “Toà Lâu Đài” (The Castle) của Franz Kafka, “Yuse bên Aicập” (Joseph in Egypt) của Thomas Mann, “Moby Dick” của Melville; “Huckleberry Finn” của Mark Twain, “The Old Man and The Sea” của Ernest Hemingway, “Những Vần Thơ Của Satan” (The Satanic Verses) của Salman Rushdie, v. v... đều nói đến vị anh hùng lang thang bất định, không nhà cửa, luôn chuyển động.
[18] Cf. H. Cox. Op. Cit. tr. 44.
[19] Trung tâm nghiên cứu Pew thế giới định nghĩa: 1) Thế hệ Millennials, hay Gen Y, là đoàn hệ nhân khẩu học tiếp theo của thế hệ X và trước thế hệ Z; mốc thời gian được biết đến rộng rãi cho thế hệ này là sinh từ 1981 đến 1996. Vào năm 2021, Gen Y già nhất là 40 tuổi, trẻ nhất là 25 tuổi. 2) Thế hệ Gen Z tiếp theo Gen Y. Theo định nghĩa này, vào năm 2021, thành viên lâu đời nhất của Thế hệ Z sẽ 24 tuổi, và người trẻ nhất là 9 tuổi. Thế hệ Z là những người sinh từ năm 1997 trở đi đến 2012. Ta có thể xem người trẻ trong bài viết này là thành phần nằm giữa thế hệ Gen Y và Gen Z.
[20] Ở mô hình đại gia đình nông nghiệp, tất cả dâu rể cùng sống trong căn nhà, và cùng tham gia công việc đồng án của gia đình.
[21] Các quan triều đình thủ cựu của vua tôi nhà Nguyễn chống lại mọi sáng kiến của Nguyễn Trường Tộ để hội nhập với thế giới Tây Phương, cơ bản họ sợ nhân dân bị nhiễm những điều mới lạ của thế giới bên ngoài và họ không thể kiểm soát dân. Những chuyện tương tự như vậy có thể xảy ra mọi thời, xưa cũng như nay. Các dân biểu bảo thủ của thành phố Athen thời cổ, chống lại dữ dội việc xây hải cảng Pirê. Họ biết rằng, nếu quen thuộc với các sản phẩm ngoại nhập của người nước ngoài, thì rồi nhân dân phải đi ra khỏi mình và phải tiếp xúc với những nguời ngoại quốc đến với các tư tưởng khác biệt và như thế có thể làm mất đi sự an ninh của của chính họ (Cf. H. Cox. tr. 46).
[22] Ibid.
[23] H. Cox . tr. 47.
[24] Deputy Director of the Human Development Report Office, UNDP.
[25] “Rapid urbanisation: opportunities and challenges to improve the well-being of societies.” Web. 6/9/2017. <http://hdr.undp.org/
en/content/rapid-urbanisation-opportunities-and-challenges-improve-well-being-societies>.
[26] Sản Phẩm Nội Địa Toàn Cầu.
[27] Ibid.
[28] H. Cox. Op. Cit. tr. 47.
[29] Xem người trẻ ngày nay hành xử ra sao cho dù bản thân được sinh ra trong gia đình rất "sùng đạo".
[30] Nhà biệt thự hay từng căn hộ tách biệt, không quan tâm và để ý đến nhau.
[31] Cho dù có phải đó là một thế giới khá đặc biệt như Hồi giáo, với các nếp sống cổ truyền trải qua bao thế kỷ, vẫn phải mở cửa cho bao nhiêu sự du nhập Tây Phương.
[32] Cosmo-Polis.
[33] Cf. Charles West. 1959; H. Cox. tr. 1.
[34] Saeculum = thời bây giờ.
[35] Friedrich Gogarten.
[36] Ngay Lynn White, Jr, một sử gia văn hóa, cáo buộc là truyền thống Kitô giáo và Do Thái giáo là các tôn giáo "qui nhân" nhất đã tạo điều kiện cho nền khoa học kỹ thuật Tây Phương bóc lột không thương tiếc Trái Đất (Cf. S. B. Scharper, 1997, tr. 15). Cf. H. Cox (tr. 19-32): Cả ba trục chính trong niềm tin Kinh Thánh tạo nên sự tục hóa: (1) Sự khử thần thoại của thế giới tự nhiên với biến cố Tạo Dựng (the disenchantment) (2) Sự khử thiêng chính trị với biến cố Xuất Hành (the desacralization); (3) Sự khử thánh các giá trị với Giao Ước Sinai và việc loại trừ các bụt thần (the deconsecration).
[37] Gs, số 36.
[38]GS, số 36. Chủ nghĩa duy thế tục (secularism) đó là cung cách tuyên bố những giá trị tương đối của trần thế thành giá trị tuyệt đối. Nó khác sự tục hóa (secularization). Cf. Christifideles Laici, số 11.
[39] L. Boff. tr. 183.
[40] H. Cox. tr. 47.
[41] Hay nền thần học về Biến Trạng Xã Hội. Theology of Social Change. Cf. H. Cox. “Chapter 5, tr. 91-107.”
[42] 30/12/1987. Cf. RS phần V: “Một Cách Đọc Các Vấn Đề Hiện Đại Theo Quan Điểm Thần Học.”
[43] Cf. A. Fermet & R. Marlé. 1973. tr. 152.
[44] Thành phố kỹ thuật.
[45] Cf. H. Cox. tr. 111-112.
[46] Ví dụ các sức mạnh tha hóa ta gặp trong Tân Ước. Tử vi khống chế con người; con người sinh ra với một ngôi sao. Định mạng con người đã được xác định trước.
[47] Cha đẻ là S. Freud.
[48] Những con số “mù quáng” làm thắc mắc.
[49] Một hạn từ quen thuộc trong mọi nền văn minh. Cf. H. Cox (tr. 111).
[50] Ibid. (tr. 19-32). Gaudium et Spes (số 7) nhận định rằng ngày nay con người do khả năng phán đoán sâu sắc hơn đã thanh lọc khỏi đời sống tôn giáo quan niệm ma thuật về thế giới và những mê tín dị đoan...
[51] A disenchantment of nature.
[52] A desacralization of politics.
[53] A deconsecration of values.
[54] Hans - Ruedi Weber trong tuyệt tác The Militant Ministry (Philadelphia: Fortress Press, 1963, tr. 103, note 14) chỉ ra rằng động từ Hy Lạp καθαργεω (kathargeò) được dùng để mô tả cái gì xảy ra cho “quyền năng,” không bao giờ có nghĩa là tiêu hủy hoàn toàn. Nhưng thật ra chỉ nhận định là chúng bị soán ngôi và bị chế ngự. Thật vậy, chúng bị Đức Giêsu tước đoạt sức mạnh và thu phục vì là kẻ thù nghịch nhưng rồi được điều động để phục vụ Thiên Chúa. Cf. H. Cox. tr. 128.
[55] Hesed.
[56] Chế ngự và sử dụng. Không con đường trung tính. Con người là chủ hoặc quản lý khôn ngoan và có trách nhiệm, môi trường sống của mình hoặc là chúng trở nên là chủ nhân ông của con người.
[57] H. Cox. tr. 94.
[58] Cf. H. Cox. tr. 93. 94.
[59] Thực tế, “tiến trình tục hóa làm rơi rụng những những ý nghĩa siêu hình và tôn giáo sẵn có và để cho con người tự do sáng tạo ý nghĩa mới.” Cf. H. Cox. tr. 94.
[60] New York: Macmillan.
[61] New York: Crossroad.
[62] H. Cox. Op. Cit. tr. 94-95.
[63] Họp từ 18/4-14/5/1998.
[64] Cf. EA,39.
[65] “Globalization without marginalization. Globalization in solidarity.”
[66] Một tổng kết xu hướng toàn cầu hóa (TCH) nhanh chóng cho thấy: (1) TCH, một cách thô thiển nhất, được định nghĩa như là sự hội nhập toàn cầu các nền kinh tế và các tầng lớp, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống con người và người trẻ; (2) TCH có thể là một uy lực giảm thiểu nghèo đói, nhưng hiện nay vẫn có gần hơn 2 tỉ người sống không hưởng được thuận lợi của TCH; (3) TCH đã làm thay đổi gương mặt thị trường và đụng đến con người nhiều nhất trong sự thay đổi hình dạng công việc từ truyền thống đến hiện đại; (4) Sự di dân, trong cùng một xứ hay giữa các xứ ngày càng gia tăng đặc biệt với người trẻ trong sự tự điều tiết tình trạng nghề nghiệp; (5) TCH có nhiều hậu quả trên nền văn hóa con người ngày nay; (6) Con người trên thế giới biểu lộ mối quan tâm về những hậu quả tiêu cực của TCH, ví dụ như sự phân bố bất bình đẳng của cải và sự xuống cấp môi trường; (7) Người nghèo và người trẻ cần được giúp đỡ qua giáo dục và huấn luyện nghề nghiệp để hội nhập nhanh chóng vào ngay các hoạt động của chính đất nước của họ.
[67] Herbert Marcuse (1898-1979) là triết gia Neo-Mac-xít người Đức nổi tiếng như là “triết gia của khối phản kháng.” Quan tâm đến các vấn đề cụ thể xã hội, ông mau chóng gia nhập Viện Nghiên Cứu Xã Hội Frankfurt và sớm dấn thân vào các dự án liên quan giữa các bộ môn và hướng đến một “lý thuyết phê phán xã hội” cho riêng mình như các thành viên này thường làm.
[68] Ông là một trong những nhà trí thức vượt trổi vào những thập niên 1960 và 1970 của Châu Mỹ.
[69] Nói theo chuyên môn, đó là phương pháp sử dụng Phạm Trù Phân Tâm Để Phê Bình Xã Hội.
[70] “The great refusal.”
[71] Cf. D. Kellner.
[72] Gustavo Gutierrez. Theology of Liberation. N.Y.: Orbis Book, 1973. trans. Anon. Thần Học Giải Phóng. Sài Gòn, 1992. tr. 43.
[73] Gutierrez. Ibid.
[74] Theo ông đó là lý tưởng của một sự biến đổi khả dĩ chuyển từ Tư Bản Chủ Nghĩa đến Xã Hội Chủ Nghĩa.
[75] Ông triển khai một lý thuyết về giai đoạn mới của một quốc gia và tính độc quyền của Chủ Nghĩa Tư Bản, khi nhấn mạnh đến các các tương quan giữa triết học, lý thuyết xã hội và sự phê bình văn hóa, và từ đó ông đi đến một sự phân tích những hệ thống, đặc biệt những mô hình chính trị và xã hội như của xã hội Đức Quốc Xã, Cộng Sản, Tư Bản. Trong tác phẩm “Lý Trí và Cách Mạng” (1941), ông đã vận dụng Hegel và Marx liên quan đến sự biện chứng trong tư duy và sự phân tích các phạm trù xã hội. Công trình “Eros và Nền Văn Minh” (1955) lại cho thấy một cố gắng bạo gan tổng hợp Marx và Freud để đưa ra một sơ phác những nét cho một xã hội không bị áp bức. Theo Marcuse, ngay chính lý thuyết về vô thức của Freud đã chất chứa bản năng hướng đến hạnh phúc và tha nhân, và những xu hướng tốt lành này được biểu lộ trong mơ mộng.
[76] G. Gutierrez. Op. Cit. tr. 50-51.
[77] “The One-Dimensional Man” (1964).
[78] Cf. NH Quang. Nhân Học Triết Học, Tập II, Ch XVI. Sài Gòn: Signum Fidei, 2020. Herbert Marcuse có một chú tâm đặc biệt đến vai trò của kỹ thuật trong vấn đề hoặc định những tổ chức đương đại: tương quan giữa kỹ thuật, kinh tế, văn hóa và đời thường được ông nhấn mạnh như là quan trọng. Ông cũng chú tâm đến những dạng văn hóa mới cùng những kỹ thuật truyền thông càng lúc càng tiên tiến; chúng xuất hiện như những khí cụ hiệu năng cả trong sự lạm dụng và áp bức xã hội dưới nhiều dạng tinh vi lẫn trong sự giải phóng con người với những đổi thay xã hội làm thăng tiến nhân phẩm con người.
[79] Herbert Marcuse. Soviet Marxism. New York: Columbia University Press 1958 (2d ed. 1988). tr. 174.
[80] Xem lý thuyết hoán cải tâm trí của Bernard Lonergan (Cf. VL N.H. Quang. “Bernard Lonergan.” Nhân Học Thần Học. Hà Nội: NXB Tôn Giáo. tr. 231-234.
[81] Như ta đã nói ở trên, phong trào phản kháng WTO lần đầu tiên đã ra đời trước cuộc họp của các G8 ở Seatle (tháng 11, 1999). Người dẫn đầu đoàn biểu tình hơn 10 ngàn người lại là Lori Wallach, một cô sinh viên trường Luật Harvard, rất am hiểu về tình hình thương mại toàn cầu và sự đầu tư vào các Nước Thứ Ba đã đưa đến một sự lệ thuộc mới của các nước đang phát triển, ví dụ như Phi Châu nợ nước ngoài đến 40 tỷ dollars và không có cơ may trả nổi.
[82] Ngoài lãnh vực chính trị và doanh nghiệp, cần có một sự chú trọng đến việc giáo dục người trẻ trong các chương trình công dân giáo dục về toàn cầu hóa, cũng như tìm một “xúc tác” để giúp các nhà giáo dục triển khai các giáo trình và chương trình về những hệ luận gây lên trong những dịch vụ thương mãi và đầu tư. (Cf. George Russell, Chairman of the Russell Family Foundation).
[83] Cf. G. Gutierrez. Op. Cit. tr. 51.
[84] Cf. Lê Có. Xóa Nợ Rồi Gì Nữa? Báo CGDT (23/6/2005). No 1512, tr. 14.
[85] Juan Somavia (25/6/2004). Globalization Poverty, Poverty Reduction; Strategy Globalization; Local Economic Development.
(Presidential Fellows Lecture Series)... David Ray, chuyên gia kinh tế, Phó Giám Đốc dự án Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Việt Nam (VNCI) đã khẳng định tại Diễn Đàn Doanh Nghiệp ngày 1/6/2005 rằng, cái mà để thu hút nhà đầu tư, đó phải là chất lượng điều hành của bộ máy quản lý (Cf. TTCN 22-2005, tr. 6).
[86] Mandala từng bị ngồi tù lâu năm vì chống lại chế độ kỳ thị này.
[87] G. Gutierrez. Op. Cit. tr. 52.
[88] Ibid.
[89] George Russell, Chairman of the Russell Family Foundation. Report.
[90] Phương pháp hiện tượng luận.
[91] Phương pháp chủ tâm của hiện tượng luận.
[92] G. Gutierrez. Op.Cit. tr. 52-53.
[93] Thông Điệp Phát Triển Các Dân Tộc (26/3/1967).
[94] GS, 9: GS, số 9: Các quốc gia đang trên đường phát triển cũng như các quốc gia mới dành được chủ quyền mong muốn dự phần vào những lợi ích của nền văn minh hiện nay...(nhưng) càng ngày càng gia tăng sự khác biệt giữa các quốc gia, cũng như thường thấy gia tăng sự lệ thuộc cả về phạm vi kinh tế đối với các quốc gia giàu mạnh và tiến bộ nhanh hơn. Số 85: mặc dù hầu hết các dân tộc đều được tự trị, tuy nhiên còn lâu họ mới thoát khỏi những chênh lệch thái quá và lệ thuộc quá đáng...
[95] PP, 47.
[96] PP, 14: Sự phát triển đích thực là sự phát triển toàn diện… nghĩa là thăng tiến tất cả con người và toàn thể con người... “Chúng tôi không chấp nhận việc tách rời kinh tế khỏi khỏi vấn đề của con người, việc tách rời vấn đề phát triển khỏi nền văn minh liên hệ.” Cf. Gioan Phaolô II trong thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (SRS), số 9.
[97] PP, 17. Cf. SRS, số 9.
[98] Đấng Cứu Chuộc Con Người (RH, 4/3/1979).
[99] RH, 15.
[100] Ibid.
[101] Thông Điệp Quan Tâm Đến Nền Văn Hóa Xã Hội (SRS, 30/12/1987).
[102] SRS,11-26.
[103] SRS,15; Cf. 22.
[104] Kèm theo những hiện tượng trốn chạy vào ma túy, hay tất cả các chất kích thích khác, đặc trưng của thế giới hiện tại.
[105] SRS, 26.
[106] SRS, 27.
[107] Cf. SRS. số 28. Ngay trong lãnh vực xã hội, trước đây người ta dùng chỉ số GDP để nói đến sự tăng trưởng hằng năm của một quốc gia, nay lại sử dụng thêm chỉ số phát triển con người (HDI).
[108] Gioan Phaolô cảnh báo đến một hệ quả của lối sống hưởng thụ, đó là một sự chạy theo cái hợp thời và bỏ qua cái giá trị truyền thống trường tồn (số 28). Nhìn lại từ giai đoạn Đổi Mới ở Việt Nam từ 1986 đến nay, phải nhìn nhận có một số tiến bộ rõ nét trong nhiều lãnh vực, đặc biệt kinh tế..., nhưng theo tác giả Trần Trung Phượng của bài khảo luận Đi Tìm Một Mô Hình Phát Triển, sự nhấn mạnh thái quá đến yếu tố phát triển vật chất..., đã dẫn đến những hậu quả tiêu cực về mặt văn hóa và xã hội... (Cf. CGDT, số 1512, 17/6-23/6/2005).
[109] Cf. PP, số 19.
[110] SRS, số 29.
[111] Ibid, số 30.
[112] Thông Điệp Hoà Bình (TDHB) 8/12/2006.
[113] TDHB, số 1. Phần nghiêng của tác giả.
[114] Self–knowledge, self–possession, self–giving and entering into communion with others. TĐHB, số 2.
[115] TĐHB, số 2. Cf. GLCG, 357.
[116] Ibid.
[117] Sermo 3. Cf. TĐHB, 2.
[118] TĐHB, số 3. Trích Bài Giảng tại Regensburg 12/09/06.
[119] A transcendent grammar. Đó là tổng hợp các qui tắc cho hành động cá nhân con người cũng như cho các mối tương quan hỗ tương giữa con người, phù hợp theo công bình và liên đới. Trong thông điệp Deus Caritas Est, (DCE) Bênêdict VI cũng đã nói đến mệnh lệnh tình yêu đã được Đấng Sáng Tạo khắc ghi trong bản tính con người. (DCE, số 31).
TDHB, số 3. Trích Bài Giảng tại Regensburg 12/09/06.
[120] Cf. TĐHB, số 3; số 9.
[121] Cf. DCE, số 32. 31. 18.
[122] Đức Phanxicô vượt qua cái nhìn thông thường của mọi người thường hay lập câu sáo mòn “người trẻ là tương lai của thế giới.”
[123] CV, số 64.
[124] CV, số 73.
[125] CV, số 82.
[126] Cf. CV 87- 88.
[127] Cf. Mt 19,16 -22; Lc 18,18 -23.
[128] Jesus looked steadily at him, and his heart warmed towards him. Then he said, “There is one thing you still want… And then come back and follow me.” (J.B. Phillips New Testament (PHILLIPS).
[129] Cf. CV, số 18.
[130] CV, số 32
[131] Ibid.
[132] Cf. CV, số 33.
[133] Cf. CV, số 33.
[134] Cf. CV, số 48.
Nguồn: Ủy ban Giáo lý Đức tin - Trích Logos 7
Tin mới đăng:
- Bộ Giáo lý Đức tin: Để đối thoại, Huynh đoàn Thánh Piô X cần ngưng việc truyền chức Giám mục (15/02/2026)
- 16 Tháng Hai - Thánh Gilbert ở Sempringham (1083 - 1189) (15/02/2026)
- 15 Tháng Hai - Thánh Claude de la Combière (1641- 1682) & Thánh Joan ở Valois (1464 - 1505) (15/02/2026)
- 14 Tháng Hai Thánh Valentine (c. 269) (15/02/2026)
- Thứ Hai Tuần VI - Mùa Thường Niên (15/02/2026)
Các tin khác:
- Bộ Giáo lý Đức tin: Để đối thoại, Huynh đoàn Thánh Piô X cần ngưng việc truyền chức Giám mục (15/02/2026)
- Bộ Giáo lý Đức tin công bố Tài liệu mới về Hôn nhân Công giáo (26/11/2025)
- Bộ Giáo lý Đức Tin công bố văn kiện về các tước hiệu của Đức Mẹ (09/11/2025)
- GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: BÍ TÍCH THÊM SỨC (16/10/2025)
- ẢNH HƯỞNG CỦA XÃ HỘI TRÊN NGƯỜI TRẺ (10/08/2025)
- GIỚI THIỆU SÁCH BÍ TÍCH THÁNH TẨY - BÍ TÍCH CHUYÊN BIỆT de Sacramentis in specie (05/04/2025)
- GIỚI THIỆU BỘ SÁCH BÍ TÍCH HỌC (05/04/2025)
- Đức Thánh Cha mong muốn mọi người có thể tiếp cận với thần học (10/12/2024)
- Thông điệp về Thánh Tâm Chúa Giêsu là "chìa khóa" cho triều đại giáo hoàng của ĐTC Phanxicô (28/10/2024)
- GIỚI THIỆU 4 VĂN KIỆN MỚI (25/10/2024)
- Thượng HĐGM: Thẩm quyền của các Giám mục và HĐGM về các vấn đề tín lý (18/10/2024)
- GIỚI THIỆU: Ghi chú Gestis Verbisque về tính thành sự của các bí tích (02/09/2024)
- Bộ Giáo lý Đức tin: Tổng Giám Mục Carlo Maria Viganò bị vạ tuyệt thông vì ly giáo (07/07/2024)
- Tuyên bố của Bộ Giáo lý Đức tin về phẩm giá con người (09/04/2024)
- Diễn văn Đức Thánh Cha dành cho Tham dự viên Phiên họp Toàn thể của Bộ Giáo lý Đức tin năm 2024 (27/01/2024)
.jpg)