GIÁO LÝ VIÊN HIỆP HÀNH TRONG VIỆC SỐNG ĐỨC TIN

29 / 11/ 2023, 06:11:59

Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả, bài thuyết trình của Cha Phêrô Vũ Văn Hài trong Đại hội Giáo lý Toàn quốc lần VI (21-24/8/2023) với chủ đề NGƯỜI GIÁO LÝ VIÊN HIỆP HÀNH.

----------------------------

GIÁO LÝ VIÊN HIỆP HÀNH TRONG VIỆC SỐNG ĐỨC TIN

 

1. Dẫn nhập

Trong diễn văn với 4.000 đại biểu của Giáo phận Roma ngày 18.9.2021, Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích từ ngữ hiệp hành như sau : “Đề tài hiệp hành - sinodalità -  không phải là một chương trong khảo luận Giáo hội học, và càng không phải là một kiểu thời trang, một khẩu hiệu hay một từ ngữ mới cần sử dụng hoặc lèo lái trong các cuộc gặp gỡ của chúng ta. Không phải vậy, “sinodalità” biểu lộ bản chất của Giáo hội, hình thể, lối sống và sứ mạng của Giáo hội”.

Ở đây, chúng ta chú ý đến từ ngữ “lối sống” : Hiệp hành là lối sống của Giáo hội! Đề tài chúng ta trao đổi trong giờ này là : “Giáo lý viên hiệp hành trong việc sống đức tin”. Chúng ta hiểu “việc sống đức tin” nghĩa là “đời sống trong Đức Kitô” để thi hành sứ mạng mà Đức Kitô uỷ thác.

Và như thế, “Hiệp hành trong việc sống đức tin” chính là có cùng chung một “lối sống” là “đời sống trong Đức Kitô”, hay nói cách khác là đời sống Luân lý Kitô giáo.

Trong phần trình bày này, chúng ta lần lượt tìm hiểu :

- Khái quát về Luân lý Kitô giáo

- “Tính hiệp hành” trong Luân lý Kitô giáo

- “Đời sống trong Đức Kitô” của Giáo lý viên

- Giáo lý viên “Hiệp hành trong việc sống đức tin”

2. Khái quát về Luân lý Kitô giáo

Luân lý Kitô giáo không phải là một chiếc lồng hay một nhà tù tước đi sự tự do của con người. Trái lại, nhờ những quy tắc, những luật lệ, những điều răn… Luân lý Kitô giáo giúp con người bảo vệ sự tự do chính đáng để đạt tới sự hoàn thiện. Tương tự như những quy luật sức khỏe giúp con người bảo vệ và tăng trưởng sức khỏe thể lý, những quy luật Luân lý Kitô giáo là những điều kiện cần thiết giúp người Kitô hữu hoàn thành “nhân cách Kitô giáo” nhờ việc phát huy khả năng của nhận thức và của yêu thương.

Những quy tắc đó không gây cản trở nhưng trợ giúp để con người đạt được mục tiêu hạnh phúc của đời mình.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã khẳng định : “Luân Lý Kitô giáo không nảy sinh từ một hệ thống điều răn, nhưng là hiệu quả tình bạn của chúng ta với Chúa Kitô. Tình bạn đó ảnh hưởng trên cuộc sống: nếu đích thật, thì nó nhập thể và được hiện thực trong tình yêu tha nhân”[1].

Theo Thánh Kinh, con người là một thụ tạo, được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa[2], được Thiên Chúa ban cho quyền cộng tác với Thiên Chúa trong việc cai quản vạn vật[3]. Là một thụ tạo, được chính Thiên Chúa dựng nên, nên sự sống con người, từ khi được sinh ra, lớn lên, chết đi đều có quan hệ chặt chẽ với Thiên Chúa. Ngoài ra, con người còn được Chúa Kitô cứu chuộc. Do đó, dù muốn hay không, con người vẫn hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, và tự bản tính, con người luôn hướng về Thiên Chúa như là cùng đích của đời mình.

- Mục tiêu của việc tìm hiểu Luân lý Kitô giáo của Giáo lý viên

+ Giúp GLV nhận thức chiều kích luân lý của đời sống con người, cũng như tầm quan trọng và cần thiết của chiều kích luân lý trong đời sống Kitô hữu.

+ Giúp GLV đào sâu hơn về vấn đề luân lý để có thể sống như những con người tự do và trưởng thành, có khả năng chọn lựa những hành động và cách sống của mình theo những tiêu chuẩn luân lý Kitô giáo.

+ Giúp GLV có khả năng thực thi sứ mạng là người hướng dẫn đời sống đức tin cho các học viên Giáo lý mà mình có trách nhiệm.

- Cụ thể, trong chương trình huấn luyện Giáo lý viên về phần Luân lý Kitô giáo được chia làm 2 phần (1) Luân lý căn bản và (2) Luân lý chuyên biệt, chúng ta được đề nghị tìm hiểu những đề tài sau đây :

+ Phần Luân lý căn bản bao gồm : (1) Con người : phẩm giá - tự do - hành vi nhân linh; (2) Lương tâm; (3) Các nhân đức; (4) Tội lỗi; (5) Luật luân lý; (6) Hội thánh : Mẹ và Thầy.

+ Phần Luân lý chuyên biệt : tìm hiểu về Mười Giới răn.

3. “Tính hiệp hành” trong Luân lý Kitô giáo

Trong đời sống Luân lý Kitô giáo, sáng kiến là ở nơi Chúa. Chính Chúa kêu gọi con người, và sắp xếp để con người có khả năng và bổn phận đáp trả. Thiên Chúa chỉ vì tình yêu, đã kêu gọi con người vào sự thông hiệp thân mật với Người, và bao gồm trong lời mời gọi này là bổn phận phải sống cuộc đời luân lý xứng hợp với cuộc sống thông hiệp với Ngài.

3.1. Tính hiệp hành trong Luật tự nhiên

Con người luôn khao khát tìm kiếm hạnh phúc, và khao khát chính đáng luôn bao gồm một đòi hỏi là phải “làm lành lánh dữ”. Đây là một nguyên lý cơ bản để con người có thể tìm, gặp và ở lại trong an bình và hạnh phúc[4].

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy : “Con người tham dự vào sự khôn ngoan và sự tốt lành của Đấng Tạo Hóa. Luật tự nhiên diễn tả cảm thức luân lý nguyên thủy, nhờ đó con người dùng lý trí mà phân định điều gì là tốt và điều gì là xấu, điều gì là chân lý và điều gì là dối trá. Lý trí con người ra lệnh hành động cách ngay thẳng và tránh phạm tội”[5]. Hơn thế nữa, “luật tự nhiên có nền tảng là tâm tình khao khát và quy phục Thiên Chúa. Ngoài ra luật ấy cũng có nền tảng là cảm thức về tha nhân bình đẳng với mình”[6].

Khi sống theo Luật luân lý tự nhiên trong đời mình, con người đáp lại tiếng gọi đầy yêu thương của Thiên Chúa là Đấng sáng tạo để sống hiệp thông với Người và hiệp thông với tha nhân. Bởi lẽ, khi nghe theo tiếng Lương tâm để làm lành lánh dữ, con người làm sáng lên trong cuộc đời mình hình ảnh của Thiên Chúa, đi vào trong mối tương quan yêu thương với Người và với toàn thể các loài thụ tạo. Điều này mang tính hiệp hành thật rõ nét, sinh động và cụ thể.

3.2. Tính hiệp hành trong Luật Mạc khải

Trong giao ước trên núi Sinai, chính Thiên Chúa đi bước trước trong sự hiệp hành với Dân Israel, khi Người ban cho họ Thập Giới là một ân huệ to lớn và là lời mời gọi con người bước vào trong tương quan đầy yêu thương và hiệp thông với Người.

Mười Giới Răn trình bày một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân riêng của Người. Thiên Chúa xưng mình là “Ta” ở ngôi thứ nhất và Ngài nói với dân riêng của Ngài là “ngươi” ở ngôi thứ hai. Mười Giới Răn không chỉ là những luật khô khan nhưng là cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa với con người. Thiên Chúa cho biết thánh ý của Ngài và Dân Chúa đồng thanh đáp : “Chúng tôi xin làm mọi sự Đức Giavê truyền”[7]. Như thế, Mười Giới Răn được truyền đạt trong tương quan với Giao ước : “Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã thiết lập một giao ước với chúng ta tại núi Khorép”[8].

Thánh sử Matthêu thuật lại : “Bấy giờ có một người đến thưa Đức Giêsu rằng: Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời ?. Đức Giêsu đáp: Sao anh hỏi tôi về điều tốt ? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các Giới răn”[9]. Chính vì thế, sách Giáo lý Công Giáo cho rằng người môn đệ khi “Muốn đi theo Đức Giêsu, phải tuân giữ các giới răn. Luật cũ không bị bãi bỏ, nhưng chúng ta được mời gọi tìm thấy sự viên mãn của lề luật nơi con người của Thầy mình, Đấng chu toàn tuyệt hảo lề luật”[10].

3.2. Tính hiệp hành trong Hiến chương Nước Trời

Đức Giêsu đã khẳng định rất rõ ràng : “Các con đừng tưởng Ta đến để hủy bỏ lề luật hay các tiên tri: Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn”[11].

Hiến chương Nước Trời mà Đức Giêsu công bố[12] hướng chúng tới một sự hiểu biết mới về chính mình, về Thiên Chúa và về người khác dựa trên nền tảng lời hứa của Thiên Chúa. Các Mối Phúc là căn tính của người Kitô hữu của người Kitô hữu, bởi vì các mối phúc đó vẽ lên dung nhan của chính Chúa Giêsu, và lối sống của Người.

Sách Giáo lý trình bày Các mối phúc là trung tâm lời rao giảng của Đức Giêsu, khi Người lặp lại các lời hứa đã được ban cho dân Chúa chọn khởi từ Tổ phụ Abraham. Các mối phúc kiện toàn các lời hứa này bằng cách không còn chỉ hướng đến việc thừa hưởng một mảnh đất nữa, nhưng là hướng đến Nước Trời[13].

Như vậy, các mối phúc thật không chỉ dạy chúng ta biết đường tìm về hạnh phúc Nước Trời là mục đích tối hậu của con người, mà còn đưa chúng ta vào trong tương quan hiệp thông với Thiên Chúa trong tình mến Chúa yêu người ngày trong cuộc đời này. Nói theo ngôn ngữ của Thượng hội đồng mà chúng đang hướng về : sống theo Hiến Chương Nước Trời chính là hiệp hành với Chúa và tha nhân ngay trong cuộc sống hôm nay, là cùng nhau tiến bước trên con đường tiến về hạnh phúc thật qua những hành vi yêu thương hằng ngày, dưới tác động của Lời Chúa, của ân sửng Thánh Thần và trong sự hiệp thông nơi Hội thánh[14].

4. “Đời sống trong Đức Kitô” của Giáo lý viên

4.1. Căn tính giáo lý viên theo “Tân chỉ nam Huấn giáo 2020”

Nhờ đức tin và việc xức dầu trong bí tích Rửa Tội, khi hợp tác với Huấn Quyền của Đức Kitô và như một người tôi tớ của hành động của Chúa Thánh Thần, giáo lý viên là :

(1) Một nhân chứng của đức tin và người gìn giữ ký ức về Thiên Chúa;

(2) Một thầy giáo và một nhà thần bí;

(3) Một người đồng hành và một nhà giáo dục[15].

Như vậy, Giáo lý viên chính là “thầy giáo” - là “nhà giáo dục” - là “nhà thần bí” “gìn giữ ký ức về Thiên Chúa”… bằng cách trở thành “nhân chứng của đức tin” để “đồng hành” với các học viên. Hay nói cách khác, khi sống căn tính của mình, Giáo lý viên “hiệp hành” với mọi thành phần dân Chúa trong “đời sống trong Đức Kitô”.

Thế nên, chúng ta không trình bày lý thuyết, mà là những câu chuyện và những gợi ý từ thực tế của đời sống và sứ vụ Giáo lý viên.

4.2. Những câu chuyện thực tế

- Câu chuyện 1 : “Dễ ẹc ạ!”

Một Giáo lý viên dạy Giáo lý đến bài “Mười điều răn”, sau khi cho cả lớp đọc thuộc lòng, liền hỏi các em : “Giữ 10 điều răn của Chúa khó hay dễ?”. Một em đưa tay trả lời : “Thưa dễ ẹc ạ!”. Giáo lý viên thấy vậy mới cắt nghĩa về việc giữ 10 điều răn Chúa là một thách đố, đòi phải hy sinh… và như vậy… chẳng dễ dàng chút nào! Sau khi đã phân tích, giải thích cặn kẽ, Giáo lý viên hỏi lại em đó : “Đấy, bây giờ em thấy giữ 10 điều răn của Chúa khó hay dễ?”. Bạn nhỏ đứng lên, dõng dạc nói : “Dạ thưa… dễ ẹc ạ!”. Cả lớp phì cười… Nghe được câu chuyện, con lại chợt nghĩ : Người lớn học nhiều, phân tích giỏi… thì thấy điều răn Chúa là khó giữ, khó sống theo… nhưng với 1 em thiếu nhi đơn sơ… coi việc giữ 10 điều răng Chúa chính là… vâng lời Chúa nhẹ nhàng đơn giản như vâng lời cha mẹ vậy… và như thế việc sống Đạo hay tuân giữ điều răn Chúa không có gì khó khăn, thậm chí còn… “dễ ẹc” nữa!

Thánh Augustinô đã nói rất chí lý : “Ubi amatur, non laboratur” - khi đã yêu thì không còn biết cực nhọc! Yêu và giữ điều răn Chúa cách đơn thành chính là “hiệp hành” cùng Chúa!

- Câu chuyện 2 : “Xem quả biết cây!”

Thuở bé, khi còn là học sinh Giáo lý, con ấn tượng với câu nói của 1 Giáo lý viên : “Các em có nghe Chúa nói không : ‘Cứ xem quả thì biết cây’… các em cứ nhìn thằng Du con thầy thì biết thầy ngay thôi!”. Trời ơi, hay quá! Nhớ mãi! Quả thật anh bạn tên Du của con rất dễ thương, đi Dự tu nhưng… “tu xong”… sau đó về làm “bố đời”… đến nay là ca trưởng thâm niên và nhiệt thành nhất trong giáo xứ… Giờ đây, đọc lại ký ức… con thấy khâm phục người Giáo lý viên năm xưa ấy… dám đem đời sống và sự giáo dục con cái của mình ra không phải để khoe mẽ, mà là đánh cược với các học sinh Giáo lý… Vì lỡ vị đó mà không sống và giáo dục con cái nên người thì thật ê chề!

Nhưng quý thay, lời nói và lối sống của vị Giáo lý viên ấy có sự thống nhất! Nói theo ngôn ngữ “hiệp hành” thì ngay trong cuộc đời của vị Giáo lý viên ấy đang có 1 tiến trình “hiệp hành” giữa lời nói và hành vi...

- Câu chuyện 3 : “Con sợ… học Giáo lý!”

Khảo sát 50 em học sinh giáo lý lớp Rước lễ vỡ lòng và Thêm sức, thì chỉ có 11 em chọn câu trả lời “yêu thích học Giáo lý”…và không em nào đánh dấu vào ô “em sống những gì em học”!

Trường hợp điển hình : một em học sinh giáo lý lớp Rước lễ vỡ lòng nhất định không đi học Giáo lý nữa! Gặng hỏi mãi thì em ấy mới nói lý do vì Giáo lý viên bắt phạt “chép 100 lần câu Giáo lý mà em lỡ không thuộc” trong tuần trước! Em nói với mẹ : “Con sợ… học Giáo lý!”

Làm sao giờ Giáo lý thực sự là giờ “gặp gỡ” chứ không là buổi nhồi nhét kiến thức, làm sao các học viên Giáo lý thực sự là người “tham gia” chứ không phải là người thụ động nghe và gật!? Nghĩa là Giáo lý viên phải “hiệp hành” cùng với học viên Giáo lý!

2. Những tấm gương “sống đức tin” của Giáo lý viên

Ở khắp các châu lục, không ít các giáo lý viên đã không chỉ “dạy Giáo lý” mà còn xác tín những gì mình dạy và sống những gì mình tin bằng việc hy sinh mạng sống, để làm chứng cho Đức Kitô. Trong số các chứng nhân này, chúng ta nhắc đến một số vị đã được phong chân phước gần đây.

- Chân phước Giáo lý viên Isidoro Ngei Ko Lat (Myanmar)

Ngay từ nhỏ, Isidoro Ngei Ko Lat đã thường xuyên lui tới với các nhà truyền giáo và trợ giúp các vị. Quyết tâm dấn thân cho Chúa, anh không kết hôn và mở một trường tư thục miễn phí trong làng, đây cũng là nơi anh dùng để dạy giáo lý. Năm 1948, anh gặp cha Vergara, và cha đã mời anh tham gia dạy giáo lý ở Shadaw. Từ đó, Isidoro luôn ở bên cạnh nhà truyền giáo cho đến khi được phúc tử đạo vì thù hận đức tin ở Myanmar vào tháng 5.1950. Vào ngày 24.5.2014, Giáo lý viên Isidoro Ngei Ko Lat đã được Đức Thánh Cha Phanxicô phong chân phước. Nhân dịp này, Đức Thánh Cha nói: “Ước gì sự trung thành anh hùng của các vị tử đạo đối với Chúa Kitô là sự khích lệ và gương sáng cho các nhà truyền giáo, đặc biệt cho các giáo lý viên đang hoạt động tông đồ trong các xứ truyền giáo, vì điều này, toàn thể Giáo hội biết ơn họ”[16].

- Hai Chân phước Giáo lý viên trẻ người Uganda : Davide Okelo và Gildo Irwa

Hai giáo lý viên trẻ người Uganda là Davide Okelo và Gildo Irwa sống vào đầu thế kỷ 20. Cuộc tử đạo của hai giáo lý viên này xảy ra sau ba năm Trung tâm truyền giáo Comboni ở Kitgum hoạt động. Họ dạy giáo lý, hướng dẫn cầu nguyện và tập hát cho mọi người. Chỉ trong một thời gian ngắn, họ đã được mọi người đón nhận và yêu quý. Trong khoảng từ ngày 18 đến ngày 20.10.1918, họ bị đâm chết. Trước khi bị giết, họ được yêu cầu rời khỏi làng và dạy giáo lý chỗ khác, nhưng họ từ chối. Cả hai được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong chân phước vào ngày 20.10.2002, nhân Ngày Thế giới Truyền giáo[17].

- Chân phước Anrê Phú Yên

Vào năm 1642, Anrê Phú Yên khăn gói lên đường gia nhập trường “Thầy giảng Hội An” do cha Đắc Lộ thành lập. Cha Đắc Lộ đã tóm tắt công việc của thầy Anrê : “Thầy Anrê đặc biệt chăm chỉ đi theo thầy Inhaxiô trong mọi hoạt động vì lòng bác ái, thầy đến tận kinh đô xứ Đàng Trong, ở đó riêng mình thầy làm việc bằng nhiều người khác. Thầy giảng đạo cho người ngoại giáo, dạy dỗ kẻ tân tòng…, dọn dẹp nhà thờ rất sạch sẽ, trang hoàng nhà thờ trong những ngày lễ lớn, khéo léo đến nỗi làm cho bổn đạo tăng thêm lòng sốt sắng và cả người ngoại giáo cũng phải trọng kính mầu nhiệm của Đạo”.

Ngày 25 tháng 7 năm 1644, Cha Đắc Lộ và thầy Inhaxiô cùng với 04 thầy khác đang đi làm việc tông đồ, thầy Anrê Phú Yên ở nhà săn sóc 4 thầy trong nhóm đang bị bệnh. Toán lính tìm bắt Thầy Inhaxiô nhưng không tìm thấy, Thầy Anrê mạnh dạn nói với toán lính: “Nếu các ông muốn bắt thầy Inhaxiô thì vô ích vì Inhaxiô không có ở đây. Còn muốn bắt tôi thì rất dễ dàng, tôi là tín hữu, hơn nữa là thầy giảng. Tôi có cả hai tội mà các ông khép cho thầy Inhaxiô để bắt thầy ấy. Nếu thầy ấy có tội thì tôi làm sao vô tội được”. Chân phước Anrê Phú Yên đã được phúc tử đạo ngày 26.07.1644 trước sự chứng kiến của cha Đắc Lộ.

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phong thầy giảng Anrê Phú Yên lên bậc chân phước ngày 05.03.2000.

Năm 2008, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã chính thức chọn Chân Phước Anrê Phú Yên là Bổn mạng của Giáo lý viên Việt Nam và chọn ngày 26.7 làm Ngày Giáo lý viên Việt Nam[18].

4. Giáo lý viên “Hiệp hành trong việc sống đức tin”

4.1. Với cộng đoàn Dân Chúa

- Với các bậc phụ huynh :

Cha mẹ là Giáo lý viên đầu tiên đối với con cái : Làm sao giúp cha mẹ ý thức và sống lời thề hứa trong Bí tích Hôn phối : “Đón nhận con cái Chúa sẽ ban và giáo dục chúng theo luật Chúa Kitô và Hội thánh”[19]. Một cách cụ thể như : việc đọc kinh hôm mai trong các gia đình, siêng năng suy niệm và học hỏi Lời Chúa, siêng năng tham dự Thánh lễ, sống công bình bác ái… Giáo lý viên làm sao tương tác với các bậc phụ huynh? Làm thế nào để có sự liên đới giữa Giáo lý viên và các bậc làm cha mẹ trong “việc sống đức tin” và nêu gương cho con cái?

- Với các thành phần Dân Chúa :

+ Với Cha sở / cha phó / Tu sĩ nam nữ : Cùng nhau thăm viếng gia đình các học viên Giáo lý, cùng nhau chia sẻ Lời Chúa, cùng nhau Lần chuỗi hoặc tổ chức “Chuỗi sống” cho cầu nguyện cho việc huấn giáo…

+ Với các Hội đoàn : Có sự liên đới - liên kết giữa các Hội đoàn trong “việc sống đức tin”, tránh thái độ “nước sông không phạm nước giếng”… Cụ thể cần có những buổi thảo luận, chia sẻ, họp hội chung… để chia sẻ và cùng nhau thực thi sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng ngay trong môi trường sống hằng ngày.

+ Với mọi Kitô hữu : sống hiệp thông, biết lắng nghe, đối thoại, cùng tham gia… trong mọi sinh hoạt của Giáo xứ, nơi Nhà thờ cũng như trong các Khu xóm. Làm sao để ai cũng biết Giáo lý viên là ai, làm gì, làm thế nào, làm với ai… để có thể cảm thông chia sẻ và cùng “sống đức tin”…

4.2. Với các học viên Giáo lý

- Trong những buổi “gặp gỡ” Giáo lý :

+ Tạo không khí vui tươi, phấn khởi với mục tiêu là cùng nhau gặp gỡ Chúa : Tâm thế, thái độ cử chỉ, cách trình bày nội dung Giáo lý với những ví dụ và gương sáng cụ thể trong việc sống đức tin, hầu khơi lên trong tâm trí các học viên niềm say mê Chúa Giêsu và lòng nhiệt thành sống đời sống mới trong Chúa Thánh Thần.

+ Thực sự là người đồng hành, là nhà giáo dục đức tin, là chứng nhân : thân thiện như người bạn, mạnh dạn như người thầy, hăng say như người lính!

- Ngoài những buổi “gặp gỡ” Giáo lý :

+ Quan tâm thăm viếng để hiểu được hoàn cảnh của học viên, chân thành nâng đỡ đời sống đức tin của học viên bằng lời khuyên và nhất là gương sáng.

+ Sẵn sàng đồng hành với những học viên có hoàn cảnh khó khăn : không đến Nhà thờ để học Giáo lý, gia đình di dân, gia đình xa nhà thờ, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt… Bởi lẽ, Giáo lý viên không bao giờ là một “công chức dạy Giáo lý” hay là một “giáo viên Giáo lý”… mà là một ơn gọi để thực thi một sứ mạng Chúa uỷ thác.

Kết luận

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định trong Thông điệp Ánh rạng ngời chân lý (Veritatis splendor) rằng : “Luân lý Kitô giáo hệ tại chỗ nối gót theo Đức Kitô, phó thác chính mình cho Người, để cho mình được biến đổi và được canh tân nhờ vào ân sủng của Người và nhờ vào lượng từ ái của Người, ân sủng và lượng từ ái vốn đạt thấu chúng ta trong đời sống thông hiệp với Giáo Hội Người”[20]. Vâng, “nối gót theo Chúa Kitô” và “trong đời sống thông hiệp với Giáo hội Người” là một diễn tả đậm nét về “tính hiệp hành” của đời sống trong Chúa Kitô hay “hiệp hành trong việc sống đức tin” mà mỗi Giáo lý viên chúng ta cần quan tâm thực hành trong đời sống, để sứ mạng mà Giáo lý viên lãnh nhận được thi hành trọn vẹn bằng lời rao giảng và bằng gương sáng trong chính cuộc đời mình!

==========

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. “Đức tin không có việc làm là Đức tin chết” (Gc 2,17). Vui lòng chia sẻ kinh nghiệm “sống lời mình giảng dạy” trong cuộc sống hằng ngày, nghĩa là chia sẻ kinh nghiệm về cuộc sống trong Đức Kitô : có khoảng cách giữa lời mình tuyên xưng và giảng dạy với cuộc sống không?

2. Trong khi thi hành sứ mạng, người Giáo lý viên “hiệp hành” với mọi thành phần Dân Chúa trong việc “sống đức tin” thế nào : với các phụ huynh, với cha sở / cha phó / tu sĩ, với các hội đoàn… và nhất là với các học viên Giáo lý

 


[1] Bê-nê-đic-tô XVI, Huấn dụ trong buổi Triều yết chung (26.11.2008), xem trong: http://www.oecumene.radiovaticana.org/vie/index.asp.

[2] x. St 1,27.

[3] x. GS 12.

[4] x. Austin Fagothey, Right And Reason, Ethics In Theory And Practice, 113.

[5] GLCG, số 1954.

[6] GLCG, số 1955.

[7] Xh 19,8.

[8] Đnl 5,2.

[9] Mt 19,16-17.

[10] GLCG 2053.

[11] Mt 5,17.

[12] x. Mt chương 5.

[13] x. GLCG số 1716.

[14] x. GLCG ss. 1724-1729.

[15] x. “Tân chỉ nam Huấn giáo” của Hội Đồng Giáo Hoàng về Thăng Tiến việc Tân Phúc Âm Hóa ban hành năm 2020, số 113.

[16] https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2021-05/chung-ta-duc-tin-cua-cac-giao-ly-vien-tren-khap-cac-chau-luc.html.

[17] x. https://www.vatican.va/news_services/liturgy/saints/ns_lit_doc_20021020_okelo-irwa_it.html

[18] x. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/chan-phuoc-anre-phu-yen-tu-dao-ngay-26-thang-7-nam-1644-48970

[19] Nghi thức Hôn phối.

[20] Gioan Phaolô II, Thông Điệp Veritatis Splendor (Ánh Rạng Ngời Chân Lý), 06.08.1993, số 119.

 

Tác giả: Lm. Phêrô Vũ Văn Hài - Gp. Cần Thơ
Tag:

Các tin đã đưa ngày: