Tin chi tiết
ĐỘC THÂN LINH MỤC (31/01/12, 8:25 am)

 

 

Ngày 29-02-2008, Đức Hồng y Tarciscio Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, đã đệ trình cuốn Niên Giám (Annuario Pontificio) lên Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI hôm 29/2/2008. Theo thống kê trong cuốn niên giám này con số Linh mục có sự gia tăng khiêm nhường: năm 2005 con số Linh mục là 406.411, năm 2006 có 407.242 Linh mục. Đó là cái nhìn tổng thể, nếu xét từng châu lục thì con số Linh mục ở ba lục địa: Mỹ, Âu và Úc châu giảm đáng kể. Đức cha Jacques Gaillot đã đổ lỗi cho việc giảm sút con số Linh mục là do luật độc thân quá khe khắt của Giáo Hội Công Giáo. Và Ngài đã tích cực kêu gọi hủy bỏ luật độc thân Linh mục, ngài tuyên bố: “Tôi không bao giờ bỏ lời đã thề hứa về việc giữa luật độc thân… Tôi chỉ đặt vấn nạn về luật đó. Và luật đó thật đáng ghê sợ… Trong tương lai tôi sẽ để cho các Linh mục được tự do quyết định có nên cưới vợ hay không”[1]. Theo Đức cha Gaillot, chỉ khi nào luật độc thân được hủy bỏ thì may ra mới giải quyết được sự khủng hoảng của việc thiếu Linh mục. Christopher West trong tác phẩm “Sex, Heaven, and Priestly Celibacy” cũng đưa ra lập luận giống như vậy: “việc từ bỏ luật độc thân chính là phương cách hữu hiệu nhất nhằm giải quyết tình trạng thiếu Linh mục”[2].

Thực sự luật độc thân Linh mục có là rào cản cho việc các bạn trẻ muốn chọn đời sống Linh mục không? Chắc chắn là không. Nếu cho rằng việc giảm sút con số Linh mục do bởi luật độc thân, thì quả thật là một suy nghĩ ấu trĩ, bởi những người đó không hiểu về giá trị cao quí của luật này. Theo Đức Tổng Giám Mục Philip Wilson, Giám Mục Giáo phận Adelaide kiêm Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Úc, việc cho phép các Linh mục được kết hôn không phải là biện pháp để giải quyết vấn đề thiếu ơn gọi làm Linh mục. Ngài nói: “Chúng ta thường nghe người ta nói rằng Giáo Hội nên để cho các Linh mục được kết hôn và vấn đề thiếu Linh mục sẽ được giải quyết. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ điều quan trọng là hãy suy tư về giá trị tích cực của tình trạng độc thân … Cần phải thấy ơn gọi không đơn thuần là một lựa chọn cá nhân và riêng tư trong cuộc đời mà còn hơn thế. Mỗi ơn gọi là tiếng kêu mời của Chúa trong bối cảnh cộng đồng các tín hữu và để phục vụ cộng đồng. Nếu chúng ta chỉ nhìn ơn gọi theo quan điểm cá nhân chúng ta sẽ thấy khó mà nhận ra những điều các Linh mục và tu sĩ bị thiệt thòi vì họ sống đời độc thân. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. nhắc nhở chúng ta rằng:’Không ai được kêu gọi để bước đi đơn độc cả.’… Trọng tâm của sứ vụ của Chúa Giêsu là rao giảng về Nước Trời. Quả thực chính bản thân Người đã làm cho Nước Chúa hiện diện trong thời gian và lịch sử loài người. Nước Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta và bao gồm cả nỗ lực của con người, chúng ta biết rằng nhiệm vụ của mình là hoàn tất công trình đó và chỉ trong huyền nhiệm của Thiên Chúa. Các Linh mục và tu sĩ độc thân là dấu chỉ rõ rệt của huyền nhiệm này. Họ tiếp tục thách đố chúng ta phải có tầm nhìn xa hơn nữa.”[3]

I- Lịch sử và huấn quyền về luật độc thân Linh mục

1.1 Lịch sử

Mặc dầu độc thân Linh mục là kỷ luật của Giáo Hội, không thuộc về thiên luật, nhưng có thể nói đó cũng thuộc về truyền thống Tông đồ. Thánh Phaolô trong thơ gởi Giáo đoàn Corinthô cũng chỉ đạo: “Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng Chúa. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ” (1 Cr 7, 32 – 33). Đây được coi như chứng tích đầu tiên về ân huệ độc thân Linh mục trong Giáo Hội.

- Vào thế kỷ thứ tư, hai thánh Giáo phụ Ambriosiô và Giêrônimô chú giải thơ thứ nhất gởi cho Timôthêô 3, 2-4 nhằm chứng minh độc thân Linh mục bắt nguồn từ truyền thống Tông đồ. Theo đó, một người đã kết hôn có thể trở thành Giám Mục, nhưng khi đã trở thành Giám Mục rồi, người đó phải tránh xa việc quan hệ xác thịt với vợ mình và không được phép cưới vợ lần nữa. Theo Giáo phụ Ambrôsiô, thơ gởi cho Timôthêô, Thánh Phaolô lưu ý về việc những Giám Mục “có con”, chứ không nói “sinh con”, hay là cưới vợ một lần nữa[4], “Thánh Tông đồ không nói: hãy chọn làm Giám Mục, người cưới một vợ và sinh con, nhưng là chọn người cưới một vợ, và con của ngài được dạy dỗ biết phục tùng cách nghiêm minh. Một cách chắc chắn các anh có thể thêm rằng, người đó không còn là Giám Mục đang khi làm Giám Mục mà sinh con”[5]. Tertulianô, căn cứ vào 1 Tim 3, 2-4, đã cho biết thánh Tông Đồ chắc chắn tin rằng, ngoại trừ Phêrô, tất cả các Tông đồ còn lại đã tiết dục[6]. Trong tác phẩm De Praescriptione contra haereticos, Tertullianô nói đến việc tiết dục như là một trong các tục lệ thuộc đạo Mithraïsme[7], việc tiết dục đó mô phỏng từ Kitô giáo, nhưng không chỉ dành riêng cho hàng giáo sĩ như ở Kitô giáo[8].

- Công đồng Elvira (306) đã quy định ở khoản 27: “Một Giám Mục, cũng như mọi giáo sĩ khác, chỉ được nhận một người chị em hay một trinh nữ đã thánh hiến phụ giúp bên cạnh mình. Quy định là: tuyệt đối không được giữ bên cạnh mình một người nữ lạ mặt nào”; và ở khoản 33: “Quy định chung về luật cấm sau đây cho các Giám Mục, Linh mục, phó tế, cũng như cho tất cả các giáo sĩ đang thi hành thừa tác vụ: họ không được ăn ở với vợ mình và không được sinh con, ai lỗi phạm sẽ phải rời bỏ nếp sống giáo sĩ” [9].

- Công đồng Carthage (387) đã ra sắc lệnh chỉ thị các Giám Mục, Linh mục và phó tế phải kiêng cữ việc quan hệ vợ chồng, điều đó phù hợp truyền thống bắt nguồn từ các Tông đồ:

“Thật là thích hợp khi các Giám Mục và Linh mục thánh thiện của Thiên Chúa như hàng tư tế Lêvi, trong việc phục vụ Bí tích thánh thiêng các ngài phải là những người tuân giữ việc tiết dục cách tuyệt hảo, các ngài có thể đạt được điều đó hoàn toàn đơn giản vì đó là là điều mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi các ngài; điều mà các Tông đồ truyền dạy và điều đã được tuân giữ từ thời Giáo Hội sơ khai, chúng tôi phải cố gắng gìn giữ …Chúng tôi rất vui lòng khi Giám Mục, Linh mục và phó tế, những người bảo vệ sự tinh khiết, kiêng cữ không quan hệ xác thịt với vợ của họ, bởi vì họ là những người phục vụ tại bàn thánh phải giữ sự tinh sạch cách hoàn hảo”[10].

- Đức Giáo hoàng Sirice (384-399), trong thư gửi Giám Mục Imerius de Tarragone, đề ngày 10.02.385, cũng quả quyết: “Chúa Giêsu [...] muốn rằng, dung mạo của Hội thánh mà Ngài là Hôn phu, phải toát ra vẻ ngời sáng của đức trong sạch [...] tất cả Linh mục chúng ta phải liên kết với luật bền vững của những quy định này [...] để ngay từ ngày chịu chức, chúng ta luôn giữ tâm hồn và thân xác chúng ta trong tiết độ và liêm khiết, hầu làm đẹp lòng Chúa, Thiên Chúa chúng ta, qua những hi sinh mà hằng ngày chúng ta tiến dâng”[11].

- Công đồng Chalcêđônia (451) gợi ý rằng, không chỉ Giám Mục, Linh mục, phó tế, phụ phó tế mà ngay cả những người đọc sách và ca sĩ được tuyển chọn theo luật cũng không được cưới vợ trong thời gian họ thi hành nhiệm vụ.

- Công đồng Latran I (1123), qui định ở khoản 3: tuyệt đối cấm các Linh mục, phó tế, phụ phó tế chung sống với vợ mình: “Chúng tôi tuyệt đối cấm các Linh mục, các phó tế, các phụ phó tế sống thân mật với nàng hầu và với vợ, không được ở chung với các người phụ nữ khác, ngoại trừ những người nữ mà Công đồng Nicêa cho phép, vì lý do cần thiết, cho phép sống chung với mẹ, chị, hay cô dì hoặc bất cứ người nữ nào có mối liên quan thân thuộc mà không tạo ra một sự nghi ngờ nào”[12].

Khoản 21 qui định: tuyệt đối cấm các Linh mục, các phó tế, các phụ phó tế, và các tu sĩ có nàng hầu hay là kết hôn. Thánh Công đồng phán quyết rằng, việc kết của các người có thánh chức không thành sự, phải hủy bỏ, và những người đó bị kết án và phải thi hành việc sám hối[13].

- Công đồng Latran II (1139) chính thức phê chuẩn việc độc thân Linh mục thành luật[14].. Canon 6, và 7 xác định tất cả hôn nhân của người có chức thánh, từ phó tế trở lên đều bất thành. Công đồng cấm hàng giáo sĩ kết hôn.

Khoản 6 Công đồng nói: “Chúng tôi chỉ thị những thầy phụ phó tế và những người có chức thánh cao hơn kết hôn hay có nàng hầu sẽ bị loại trừ khỏi nhiệm vụ và khỏi mọi bổng lộc của Giáo Hội. Bởi từ khi trở thành và được gọi là Đền thờ của Thiên Chúa, bình chứa của Chúa và nơi cư ngụ của Chúa Thánh Thần, cho nên thật không phù hợp khi họ nuông chiều thân xác trong hôn nhân và trong những hành vi không tinh sạch”.

Khoản 7 Công đồng chỉ thị: không ai được tham dự Thánh Lễ do bởi những Linh mục có vợ hay có nàng hầu…. Các Giám Mục, Linh mục, thầy phó tế, phụ phó tế, những người lãnh chức vụ Giáo Hội theo Giáo luật, các tu sĩ không được cưới vợ, ai lỡ cưới vợ buộc phải chia tay vợ[15].

- Công đồng Tridentinô (1545 -1536) trong khóa 24, ở khoản 9, nhắc lại: đối với các giáo sĩ có chức thánh hay các tu sĩ đã tuyên khấn trọng thể giữ đức trong sạch, tuyệt đối không được kết hôn. Và với quy định đó, việc vô hiệu hôn nhân lại liên kết với bổn phận phải cầu xin Chúa ban ơn trong sạch trong một ý ngay lành[16].

- Công đồng chung Vatican II (1962 -1965) trong sắc lệnh “Presbytero rum ordinis” tái phê chuẩn và xác định luật độc thân Linh mục: “Vì những lý do đặt nền tảng trên mầu nhiệm Chúa Kitô và sứ mệnh của Người nên việc sống độc thân trước tiên được khuyến khích cho các Linh mục, rồi sau đã trở nên luật buộc trong Giáo Hội La Tinh cho tất cả những ai đã chịu Chức Thánh. Thánh Công Đồng này phê chuẩn và xác định luật này một lần nữa đối với những ai muốn chịu chức Linh mục” (PO, số 16).

1.2 Giáo huấn của Giáo Hội

a- Đức Phaolô VI – Thông điệp Sacerdotalis caelibatus- 1967

Ngày 24/ 6/ 1967 Đức Phaolô VI ban hành Thông điệp “Độc thân Linh mục” (Sacerdotalis coelibatus) như là câu trả lời dứt khoát của Giáo Hội về vần đề độc thân Linh mục, và Thông điệp đã trở thành kim chỉ nam cho các huấn giáo về vấn đề này.

Trong Thông điệp "Sacerdotalis caelibatus", Đức Phaolô VI. tái xác nhận giá trị luật độc thân Linh mục: “Độc thân Linh mục mà Giáo Hội giữ từ nhiều thế kỷ như một thứ châu báu ngời sáng, vẫn bảo toàn trọn vẹn giá trị của mình đối với thời đại chúng ta, đang ghi đậm những biến đổi sâu xa về não trạng và cơ cấu”[17]. “Vì vậy, chúng tôi cho rằng luật độc thân hiện hành, vẫn còn giá trị đối với thời đại chúng ta và luôn bền vững, cần phải liên kết với thừa tác vụ Giáo Hội. Luật đó phải nâng đỡ thừa tác viên Hội thánh trong việc chọn lựa độc hữu, dứt khoát và trọn vẹn trước tình yêu duy nhất và tối cao đối với Chúa Kitô, trước sự tận tâm phụng sự Thiên Chúa và phục vụ Giáo Hội. Luật đó cũng phải xác định tình trạng sống độc thân trong cộng đoàn các tín hữu cũng như trong xã hội phàm thế”[18].

Đức Phaolô VI trình bày ba lý do của độc thân Linh mục:

i) Ý nghĩa Kitô học

Chúa Kitô là điều mới lạ. Người đã thực hiện một cuộc tạo dựng mới. Chức Linh mục của Người là mới mẻ. Ngài canh tân mọi sự. Chúa Giêsu, Con Một Chúa Cha, được sai đến trần gian, “đã làm người, để nhân loại đang vướng phải tội lỗi và sự chết, được ơn tái sinh và nhờ sự sinh lại sẽ được vào Nước Trời. Chúa Giêsu đã hiến mình trọn vẹn theo ý Cha Người, và nhờ cuộc vượt qua của mình để hoàn thành công cuộc tạo dựng mới này, khi đưa vào thời gian và thế giới một hình thức sống mới mẻ, tinh tế, và thánh thiêng, nhằm biến đổi thân phận trần gian của con người”[19].

Hôn nhân tự nhiên, được Thiên Chúa chúc phúc ngay từ lúc tạo dựng, nhưng đã bị tội lỗi làm thương tổn, đã được canh tân nhờ Chúa Kitô, Đấng “đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích cao cả và trở thành dấu chỉ huyền nhiệm cho sự kết hợp của Ngài với Giáo Hội [...]. Nhưng Chúa Kitô, Đấng trung gian cho một Giao ước cao cả hơn (x.Dt 8,6), đã mở ra một con đường khác, nhờ đó con người thụ tạo, khi liên kết hoàn toàn và trực tiếp với Chúa, chỉ còn lo lắng cho Chúa và những gì liên hệ đến Ngài, sẽ biểu lộ cách rõ ràng và trọn vẹn hơn thực tại được đổi mới sâu xa của Giao ước mới"[20].

Sự mới mẻ này, con đường mới này là đời sống trong tình trạng trinh khiết mà chính Chúa Giêsu đã sống, cách hòa hợp với bản tính trung gian của Ngài giữa trời và đất, giữa Chúa Cha và nhân loại. “Để sống hòa hợp trọn vẹn với sứ vụ này, Chúa Kitô đã luôn sống trong tình trạng trinh khiết suốt cuộc đời mình, nghĩa là Ngài tận hiến trọn vẹn để phục vụ Thiên Chúa và con người”[21]. Phục vụ Thiên Chúa và con người, có nghĩa là yêu thương trọn vẹn và quảng đại, ghi dấu sự sống của Chúa Giêsu trong chúng ta. Đó là sự trinh khiết vì tình yêu Nước Thiên Chúa.

Hiện nay, Chúa Kitô vẫn kêu gọi các Linh mục Người trở thành thừa tác viên ơn cứu độ, nghĩa là thừa tác viên của công cuộc tạo dựng mới. Người mời gọi họ hiện hữu và sống trong sự sống mới, kết hợp và trở nên giống Người trong một hình thức hoàn hảo nhất có thể. Hồng ân độc thân thánh chức phát sinh từ đó, như sự đồng hình đồng dạng trọn vẹn hơn với Chúa Giêsu và như lời loan báo trước về cuộc tạo dựng mới.

ii)- Ý nghĩa cánh chung học

Việc độc thân vì Nước Trời, xét như dấu chỉ và lời báo trước về cuộc tạo dựng mới, nghĩa là về Nước Trời chung cuộc trong biến cố Cánh Chung, khi mà tất cả chúng ta sẽ sống lại từ cõi chết. Như Công đồng Vatican II đã dạy chúng ta: “Giáo Hội là mầm mống và khai nguyên Nước Thiên Chúa trên trần gian” (LG, số 5). Trong ngày sau hết, sự trinh khiết đã được sống vì tình yêu Nước Thiên Chúa, sẽ là một dấu chỉ đặc biệt, bởi lẽ Chúa đã loan báo: “Khi sống lại [...] người ta không còn lấy vợ, lấy chồng, nhưng sẽ sống như các thiên thần Chúa trên trời” (LG, số 5).

Trong một thế giới như thế giới chúng ta hôm nay, thế giới của phô diễn và thú vui dễ dãi, bị quyến rũ bởi nhiều sự việc trần thế, đặc biệt bởi tiến bộ khoa học và kỹ thuật - chúng ta hãy gợi lại các khoa sinh vật học và các công nghệ sinh vật học - thì việc loan báo một cõi khác, nghĩa là một thế giới sẽ đến, một cuộc Quang lâm, như sự hoàn tất trọn vẹn một tạo dựng mới. Độc thân Linh mục là dấu chỉ loan báo cho cuộc tạo dựng mới này: “Thật vậy, sứ mệnh toàn diện của Linh mục là tận hiến để phục vụ nhân loại mới, mà Chúa Kitô, Đấng chiến thắng sự chết đã phục hồi trong thế gian nhờ Thánh Thần Người và là một nhân loại đã được sinh ra “không bởi khí huyết, không bởi ý muốn xác thịt, không bởi ý muốn của nam nhân, nhưng bởi Thiên Chúa”. (Ga 1,13)… Ngoài ra, các ngài còn trở nên dấu chỉ sống động về thế giới mai sau, mà ngày nay đã hiện diện qua đức tin và đức ái, trong đó các con cái sự sống lại không còn dựng vợ gả chồng nữa” (P0, số 16).

iii) Ý nghĩa Giáo Hội học

Thông điệp quả quyết: “Quả thực, sự trinh khiết Linh mục là biểu hiệu tình yêu khiết trinh của Chúa Kitô đối vớiGiáo Hội, đồng thời, thể hiện sự phong phú trinh bạch và siêu phàm của tình yêu việc kết hợp này, nhờ đó, con cái Chúa được sinh ra không bởi xác thịt và máu huyết”[22]. Trở nên giống Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, Linh mục sẽ kết hôn cách mầu nhiệm với Giáo Hội, yêu mến Giáo Hội với một tình yêu duy nhất tuyệt đối.

“Như thế, đối với người Linh mục: hằng ngày, khi chết cho mình, khi vì tình yêu Chúa và vì Nước Trời, mà từ chối tình yêu hợp pháp của một gia đình dành riêng cho mình, Linh mục sẽ được hưởng vinh quang của một đời sống đầy đủ và phong phú trong Chúa Kitô, vì trong Người và vì chức Linh mục yêu thương tất cả các con cái của Chúa và hy sinh cho họ”[23].

Chính nhờ tận hiến trọn hảo cho Chúa Kitô qua đời sống độc thân, người Linh mục sẽ mang lại “một hiệu năng tuyệt vời và một thái độ tâm lý và tình cảm hết sức thích hợp để thực thi đức ái toàn hảo: Sự tận hiến sẽ giúp Linh mục phục vụ mọi người cách đại đồng và cụ thể (2 Cr 12, 15); đức tính này đảm bảo cho vị Linh mục có được sự tự do và sẵn sàng trong hoạt động mục vụ cách tích cực và huynh đệ giữa trần thế, là nơi Chúa Kitô sai họ đến (Ga 17, 18), để họ có thể tận hiến trọn vẹn cho con cái Chúa, như chính Chúa đã làm (Rm 1, 14)”[24].

 

b- Đức Gioan Phaolô II: Tông huấn “Pastores dabo vobis” 1992

Ngày 28-10-1990, Đức Gioan Phaolô II triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới lần VIII với chủ đề: Việc huấn luyện Linh mục trong hoàn cảnh hiện đại. Sau đó, vào năm 1992 Đức Gioan Phaolô II ban hành tông huấn “Pastores dabo vobis”. Trong đó Đức Thánh cha đã trình bày độc thân như một đòi hỏi triệt để của Tin Mừng, nhằm cổ võ cách đặc biệt một kiểu sống hôn nhân và nêu lên sự đồng hình đồng dạng của người Linh mục với Chúa Kitô, nhờ bí tích Truyền chức.

Bậc sống độc thân Linh mục thông chuyển cho đức khiết tịnh một số đặc tính nhờ đó, khước từ bậc sống lứa đôi vì Nước Trời (x. Mt 19, 12), các Linh mục có thể gắn bó với Chúa bằng một tình yêu không chia sớt, phù hợp trọn vẹn với Giao Ước Mới; các Linh mục làm chứng về sự sống lại thuộc thế giới mai sau (x. Lc 20, 36) và tìm được một sự trợ lực rất thích hợp cho việc thực hành liên lỉ đức ái trọn hảo để có thể nên mọi sự cho mọi người trong thừa tác vụ Linh mục.

 Theo chiều hướng ấy, không được coi bậc độc thân Linh mục như một quy tắc đơn thuần mang tính pháp lý hoặc như một điều kiện hoàn toàn bên ngoài để được chấp nhận cho việc thụ phong. Ngược lại, bậc độc thân là một giá trị mật thiết gắn liền với việc thụ phong. Bậc độc thân Linh mục làm cho Linh mục nên giống Đức Giêsu Kitô, Mục Tử Nhân Lành và Phu Quân của Giáo Hội. Bậc độc thân Linh mục tạo cho Linh mục chọn lựa một tình yêu cao cả hơn, một tình yên không chia sớt dành cho Chúa Kitô và Giáo Hội Ngài, với một tư thế trọn vẹn và vui tươi, ứng sẵn cho thừa tác vụ mục tử. Phải coi bậc độc thân như một ân sủng đặc biệt, như một hồng ân mà bất cứ ai cũng hiểu được, nhưng chỉ những người đã được ban cho ơn ấy (x. Mt 19, 11). Ân sủng này đòi hỏi một sự đáp trả có ý thức và tự do từ phía người lãnh nhận, với một sức mạnh phi thường. Đặc sủng ấy của Chúa Thánh Thần cũng chuyển ban ơn trung thành cho đến trọn đời, ơn chu toàn một cách quảng đại và vui tươi những bó buộc gắn liền. Trong việc đào tạo sống bậc độc thân Linh mục, cần phải kiến tạo vững chắc ý thức về hồng ân vô giá của Thiên Chúa; bởi đó, cần phải luyện tập cầu nguyện và cảnh giác để cho hồng ân ấy được thoát khỏi mọi điều có thể gây nguy hại.

Nếu được sống một cách chính hiệu, bậc độc thân Linh mục sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho việc chu toàn thừa tác vụ Linh mục giữa đoàn dân Thiên Chúa. Ngoài ra, bằng cách làm chứng về giá trị Tin Mừng của sự trinh khiết, Linh mục nhờ đó mà có thể giúp các đôi bạn Kitô hữu biết sống trọn vẹn “bí tích cao cả” là tình yêu của Chúa Kitô Phu Quân với Hiền Thê Giáo Hội và, nhờ sự trung thành của mình trong bậc độc thân, Linh mục sẽ trở nên nguồn khích lệ cho sự trung thành trong đời sống vợ chồng.

Việc tập luyện quan trọng và tế nhị nhằm sống bậc độc thân Linh mục, đặc biệt trong những tình huống xã hội và văn hóa ngày nay, đã dẫn các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đến một loạt những chỉ thị mà giá trị trường tồn được xác quyết do sự khôn ngoan của Mẹ Giáo Hội. Tôi dùng quyền mà đề nghị một lần nữa những chỉ thị ấy như là những tiêu chuẩn phải tuân theo trong việc đào tạo sống đức khiết tịnh bậc độc thân: Các Giám Mục cũng như các viện trưởng và các vị linh hướng chủng viện, phải thiết lập những nguyên tắc, phải cung cấp những tiêu chuẩn và phải cống hiến những trợ lực để giúp phân định trong lãnh vực này. Sự ân cần của Giám Mục và đời sống huynh đệ giữa các Linh mục mang một tầm quan trọng đặc biệt đối với công việc đào tạo sống đức khiết tịnh trong bậc độc thân[25].

c- Đức Bênêđictô XVI – Tông huấn Sacramentum caritatis - 2007

Ngày 23.10.2005, Đức Bênêđictô XVI triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế giới lần XI. Với chủ đề: Thánh Thể, nguồn suối và tột đỉnh của đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội. Tại Thượng Hội Đồng này, một lần nữa vấn đề độc thân Linh mục được đưa lên bàn hội nghị. Và câu trả lời của Thượng Hội Đồng vẫn là trung thành duy trì luật độc thân Linh mục trong văn mạch nhẹ nhàng, tế nhị: “Chúng tôi thật sự quan tâm đến việc thiếu các Linh mục để cử hành Bí tích Thánh Thể vào ngày Chúa Nhật; và điều này mời gọi chúng ta hãy cầu nguyện và cổ võ cách tích cực hơn việc mục vụ ơn gọi Linh mục…”[26]. Thay vì chọn giải pháp Truyền chức Linh mục cho những người nam đã lập gia đình để giải quyết vấn đề cho những nơi không có Linh mục cử hành Thánh Lễ, Thượng Hội Đồng đã nhắc lại những thực hành truyền thống tốt đẹp trong Giáo Hội ở những nơi thiếu vắng Linh mục, như là lời giải đáp cho vấn đề: “Chúng tôi bận tâm lo lắng việc thiếu Linh mục ngăn cản việc cử hành Thánh Lễ vào Ngày của Chúa. Đã có nhiều cách thực hành khác nhau để cử hành Ngày của Chúa, tại những đại lục phải chịu cảnh thiếu Linh mục. Việc thực hành “rước lễ thiêng liêng”, một việc đạo đức hết sức thân thiết của truyền thống Kitô, có thể và cần được cổ võ và giải thích, ngõ hầu giúp cho các tín hữu trong cả hai trường hợp hoặc để họ rước lễ thật sau đó hoặc để được an ủi trong trường hợp không thể được rước Mình và Máu Thánh Chúa Kitô vì nhiều lý do”[27].

Sau đó, trong Tông huấn Sacramentum Caritatis, được ban hành vào năm 2007, Đức Thánh cha tái xác nhận đến giá trị vô giá của đời sống độc thân Linh mục: “Các Nghị phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục muốn nhấn mạnh rằng chức Linh mục thừa tác, qua việc Truyền chức đòi phải trở nên đồng hình đồng dạng trọn vẹn với Chúa Kitô. Trong khi tôn trọng truyền thống và cách thực hành của các Giáo Hội Đông Phương, thì cần phải tái khẳng định ý nghĩa sâu xa của việc độc thân Linh mục, vẫn được nhìn nhận một cách đúng đắn như một kho tàng vô giá. Sự lựa chọn độc thân về phía Linh mục, diễn tả một cách thế đặc biệt sự hiến dâng để nên giống Chúa Kitô, cũng như việc hoàn toàn dâng hiến cho Nước Thiên Chúa. Sự kiện chính Chúa Kitô, vị Linh mục vĩnh cửu, sống sứ mệnh của Người đến độ hi sinh trên Thập Giá trong tình trạng khiết tịnh, làm nên một điểm quy chiếu vững chắc để hiểu rõ ý nghĩa của truyền thống Giáo Hội La tinh. Chỉ hiểu độc thân Linh mục theo chức năng của những hạn từ là không đủ. Độc thân thật sự là một phương thế đặc biệt để khuôn hợp chính mình với chính đường lối của Chúa Kitô. Sự lựa chọn này trước hết và trên hết mang ý nghĩa hôn ước; đó là nên đồng dạng với con tim của Chúa Kitô, là Tân Lang hi sinh sự sống mình cho Tân Nương. Kế tục truyền thống cao quý của Giáo Hội, cùng với Công Đồng Vatican II và với những vị tiền nhiệm của tôi trong các triều giáo hoàng, tôi tái khẳng định vẻ cao đẹp cũng như sự quan trọng của cuộc sống Linh mục trong bậc độc thân như một dấu chỉ diễn tả sự toàn hiến cho Chúa Kitô, cho Giáo Hội và cho Nước Thiên Chúa, và do đó, tôi tái khẳng định vẫn duy trì độc thân Linh mục trong truyền thống La-tinh. Sống đời độc thân Linh mục trong sự trưởng thành, hân hoan và hi sinh là một phúc ân trọng đại cho Giáo Hội và cho cả xã hội nữa[28].

 (còn tiếp)

Lm Antôn Hà Văn Minh


[2]Christopher West, “Sex, Heaven, and Priestly Celibacy”, trích đăng trong tờ báo The Catholic Miscellany của Giáo phận Charleston, Bang South Carolina, số ra ngày 26 tháng 1 năm 2006, tr. 6.

[3]Đức Tổng Giám Mục Philip Wilson, lá thơ mục vụ ngày 8/4/2008, www.tinvuivn.com/modules.php?name=News&file=article&sid=405.

[7]Đây là một tôn giáo huyền bí cử hành những nghi thức những nơi trong lòng đất (mithrea) Tôn giáo này thể hiện vài điều giống như Kitô giáo mà nó phát triển đồng thời.

[8]"Habet et uirgines, habet et continentes"– De praescriptione contra haereticos, XL, 5.

[9]x. H. Denzinger, Enchiridion symbolorum definitiorum et declarationum de rebus fidei et morum, ed. P. Hnermann, Bologne, 1995; nn.118 - 119, p, 61.

[11]x. H. Denzinger, Enchiridion symbolorum definitiorum et declarationum de rebus fidei et morum, ed. P. Hnermann, Bologne, 1995, số 185, trang 103.

[12]x. H. Denzinger, Enchiridion symbolorum definitiorum et declarationum de rebus fidei et morum, ed. P. Hnermann, Bologne, 1995, số 711, trang 405

[13]Nt.

[14]X.Gotthold Hasenhuettl, Glaube ohne Mythos, cuốn 2, NXB Matthias-Gruenewald, 2001, tr.537

[15]H. J. Schroeder, Disciplinary Decrees of the General Councils: Text, Translation and Commentary, (St. Louis: B. Herder, 1937). pp. 195-213.

[16]X. H. Denzinger, Enchiridion symbolorum definitiorum et declarationum de rebus fidei et morum, ed. P. Hnermann, Bologne, 1995, số 1809, trang 739

[17]Đức Phaolô VI, Thông điệp Sacerdotalis caelibatus, số 1.

[18]Đức Phaolô VI, Thông điệp Sacerdotalis caelibatus, số 14.

[19]Đức Phaolô VI, Thông điệp Sacerdotalis caelibatus, số 19.

[20]Nt,số 20.

[21]Nt, số 21.

[22]Đức Phaolô VI, Thông điệp Sacerdotalis caelibatus, số 26.

[23]Đức Phaolô VI, Thông điệp Sacerdotalis caelibatus, số 30.

[24]Đức Phaolô VI, Thông điệp Sacerdotalis caelibatus, số 32.

[25]Đức Gioan Phaolô II, Tông huấn Pastores dabo vobis, số 50.

[26]Sứ điệp gởi Dân Chúa của THĐ Giám Mục về Bí Tích Thánh Thể, số 13.

[27]Nt, số 14. 

                Liên quan tới sự độc thân Linh mục, Giám Mục người Ukraine, Sofron Stefan Mudry, đã nhấn mạnh tình huống của xứ sở ngài, bằng cách đề cao " những khó khăn xã hội nghiêm trọng" và những vấn đề thực tế mà những người nam kết hôn thường gặp phải: thiếu nhà ở, không thể di chuyển từ giáo xứ này đến giáo xứ khác vì, ví dụ, những đứa con tới tuổi đi học: bao nhiêu tình huống mâu thuẫn với sự tận tâm thừa tác vụ đòi hỏi. Giám Mục Mudry xác minh: "Đó là một vấn đề và không có giải pháp. Các anh em biết rằng trong các Giáo Hội Đông Phương, Công Giáo có những Linh mục kết hôn: 3/4 nghị phụ của những Giáo Hội này đã can thiệp bằng cách nói rằng mặc dầu phong chức những người nam đã kết hôn, thế nhưng vẫn có khủng hoảng trong ơn gọi, các Linh mục không có giờ học hỏi, họ phải làm việc nhiều để nuôi vợ nuôi con; thỉnh thoảng họ ly dị, thỉnh thoảng, họ xin Giám Mục trợ cấp cho Linh mục, cho vợ và con của Linh mục.

[28]Đức Bênêđictô XVI, Tông huấn Sacramentum caritatis, số 24.

    Lượt xem ( 786)

Bài viết khác

TRANG TIN CỦA ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN TRỰC THUỘC HĐGM VIỆT NAM
Phụ trách: ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN
Địa chỉ: Phòng số D4, Trung Tâm Mục Vụ, 6bis Tôn Đức Thắng, Q.1, Tp.HCM
Tel: +84.8.39118404; Email: vpubgldt@gmail.com; Websites: giaolyductin.net, giaolyductin.com, giaolyductin.org
Copyright © 2011 ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN TRỰC THUỘC HĐGM VN. All Rights Reserved. Designed by Fr.Hải, Miss.Bon & Mr.Hùng
Lượt truy cập : 769203
Hôm nay : 22808
Ngày hôm qua : 25214
Trong tuần này : 6379
Trong tháng này : 78207